|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 174/2023/DS-PT Ngày: 11-8-2023 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên
Các Thẩm phán: Ông Trần Phương Đông và ông Vũ Thế Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Uyên – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 67/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 02 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án sơ thẩm số 36/2022/DS-ST ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2023/QĐXX-PT ngày 28/4/2023; Quyết định hoãn phiên tòa 313/2023/QĐ-HPT ngày 23/5/2023; thông báo dời lịch số 385/TB – TA ngày 12/7/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Hợp T, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn:
1. Ông Đặng Văn L, sinh năm 1968.
2. Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1968.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L, bà T1: ông Hà Phúc T2, sinh năm 1989.
Địa chỉ: số C đường A, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Phạm Thị S, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Đặng Văn Y, sinh năm 1965.
-
Ông Đặng Văn N, sinh năm 1974.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
-
Ông Đặng Văn S1, sinh năm 1961.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
-
Bà Đặng Thị M, sinh năm 1949.
Địa chỉ: Số B tổ C, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Đặng Thị N1, sinh năm 1951.
-
Ông Đặng Văn K, sinh năm 1957.
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Bà Đặng Thị D, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Ông Đặng Văn M1, sinh năm 1963.
Địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
Địa chỉ nơi ở hiện nay: Nhà nghỉ V, đường Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Trương Văn L1, sinh năm 1977.
- Bà Lê Thị Thanh T3, sinh năm 1986.
- Ông Phạm Thanh T4, sinh năm 1960.
-
Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
(Ông T, bà S1, ông T2 có mặt; các đương sự khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn
ông Lê Hợp T trình bày:
Tháng 4/2002, ông nhận chuyển nhượng của bà Phùng Thị T5 quyền sử dụng đất có diện tích khoảng 2.000m² toạ lạc tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Thời điểm chuyển nhượng, đất thuộc Lô S - X thuộc phạm vi quản lý của Lâm trường X, nay là thửa đất số 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai có diện tích 2.255m². Các bên thoả thuận với giá chuyển nhượng là 10.500.000 đồng, có lập giấy tờ sang nhượng có sự chứng kiến của ông Đặng Văn L là con của bà T5.
Ông đã giao đủ tiền cho bà T5, nhưng khi ông vào canh tác đất thì vợ ông L là bà Vũ Thị T1 ngăn cản không cho canh tác. Năm 2003, bà Thân yêu c Toà án giải quyết ly hôn với ông L, lúc này vợ chồng ông L yêu cầu được lấy lại đất và giao lại tiền cho ông, do ông chưa nhận đất nên tạm thời nhận của vợ chồng ông L số tiền là 10.263.000 đồng vào ngày 05/8/2003 và sau đó ông đem nộp cho Toà án số tiền 10.000.000 đồng để giao trả lại cho vợ chồng ông L để các bên thoả thuận lại cho hợp lý, khi nào giải quyết xong sẽ nhận lại số tiền.
Ông nhận thấy ông là người mất tiền mà không được nhận đất do đó ông khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận cho ông được quyền sử dụng đất, buộc vợ chồng ông L trả lại toàn bộ diện tích đất đã chiếm và bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất.
Hiện nay, đất tranh chấp đã được Lâm trường Xuân L2 giao về cho Ủy ban nhân dân xã X quản lý nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên vợ chồng ông L đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Phạm Thanh T4 và bà Nguyễn Thị Đ, hiện nay đất đã được vợ chồng ông T4 chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông Trương Văn L1 và bà Lê Thị Thanh T3. Hiện tại, vợ chồng ông L1 đã xây dựng nhà trên một phần diện tích đất.
Đất đã được ông nhận chuyển nhượng từ bà T5, nhưng vợ chồng ông L chiếm đất sử dụng và chuyển nhượng cho người khác do đó ông yêu cầu vợ chồng ông L phải trả lại đất đã chiếm. Tại phiên tòa, ông chỉ yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông L trả lại cho vợ chồng ông quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất thuộc thửa đất số 338 tờ bản đồ số 64 xã X để ông làm thủ tục được đứng tên quyền sử dụng đất. Ông không yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất, ông cũng không yêu cầu vợ chồng ông L và bà T1 bồi thường thiệt hại về tài sản. Ông không chấp nhận bồi thường giá trị công trình xây dựng trên đất do vợ chồng ông L1 đã cam kết tự chịu trách nhiệm về
việc nhận chuyển nhượng và giao toàn bộ công trình xây dựng trên đất cho ông sử dụng. Ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đặng Văn L và bà Vũ Thị T1 có đại diện theo ủy quyền ông Hà Phúc T2 trình bày:
Đất tranh chấp với vợ chồng ông T có nguồn gốc do Lâm trường X quản lý đã được bà Phùng Thị T5 nhận chuyển nhượng từ năm 1988. Đến năm 1990, bà T5 giao đất cho vợ chồng ông và ông Đặng Văn Y sử dụng, sau đó ông Y lấy vợ ở riêng nên toàn bộ diện tích đất được vợ chồng ông bà sử dụng. Năm 2002, ông L và ông Y làm văn bản trả đất cho bà T5 và bà T5 đã làm giấy tờ bán đất cho ông T với giá tiền là 10.500.000 đồng.
Lúc đó, vợ chồng có tranh chấp ly hôn với nhau nên không giao đất được cho ông T. Đến tháng 8/2002, vợ chồng hòa giải đoàn tụ và có thỏa thuận với ông T về việc giao lại tiền, ông T đã có cam kết và đồng ý nhận lại số tiền 10.500.000 đồng tiền chuyển nhượng nhưng sau đó ông T kiện buộc ông bà giao đất.
Đất chuyển nhượng đã được các bên thỏa thuận giao trả lại tiền, ông T đã nhận tiền nên vợ chồng ông bà không chấp nhận đối với yêu cầu của ông T.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Phạm Thị S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày của ông Lê Hợp T, bà không có yêu cầu độc lập mà đứng về phía quyền lợi của ông T.
- Quá trình giải quyết vụ án, ông Đặng Văn S1, bà Đặng Thị M, ông Đặng Văn K, bà Đặng Thị D và ông Đặng Văn M1 là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Các ông bà là con của ông Đặng Văn L3, sinh năm 1919 (chết ngày 26/7/2007) và bà Phùng Thị T5, sinh năm 1932 (chết ngày 28/12/2010). Thửa số 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai có nguồn gốc do bà T5 nhận chuyển nhượng của người khác. Các ông bà không có ý kiến gì về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T5 với vợ chồng ông T. Trong vụ án này, các ông bà không có yêu cầu khởi kiện độc lập và xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
- Quá trình giải quyết vụ án, ông Đặng Văn Y và ông Đặng Văn N đã được Tòa án triệu tập nhưng không đến Tòa án làm việc và cung cấp văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời trình bày.
- Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Thanh T4 và bà Nguyễn Thị Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông bà là người sử dụng phần đất thuộc thửa số 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X hiện đang tranh chấp giữa vợ chồng ông T với vợ chồng ông L. Đất do ông bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông L và bà T1 vào ngày 18/5/2016 với giá tiền là 370.000.000 đồng. Trên đất có khoảng 50 cây điều do ông bà trồng vào năm 2016 sau khi nhận chuyển nhượng đất này.
Ông bà sống tại thửa đất bên cạnh thửa đất 338 này nên biết thửa đất này đang bị tranh chấp giữa vợ chồng ông T với vợ chồng ông L. Ông T4 là anh vợ của ông T vì vậy trước khi nhận chuyển nhượng đất có hỏi qua vợ chồng ông T thì được vợ chồng ông T cho biết là trong vụ tranh chấp này là vợ chồng ông bà đã thua và khuyên nên mua đất vì người nhà với nhau. Vợ chồng ông L cũng giao cho ông bà giấy giao nhận tiền giữa vợ chồng ông L với ông T tại Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc. Đồng thời, từ đó đến nay đất do vợ chồng ông L quản lý sử dụng để trồng cây. Vì vậy ông bà mới quyết định mua đất và cũng được vợ chồng ông T hướng dẫn trồng cây, nhưng sau đó thì mới biết là vợ chồng ông T vẫn còn tranh chấp đất với vợ chồng ông L.
Trong vụ án này, ông không có yêu cầu khởi kiện độc lập hay yêu cầu gì khác. Nếu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T thì ông bà và vợ chồng ông L sẽ tự thỏa thuận giải quyết với nhau, nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.
- Quá trình giải quyết vụ án, ông Trương Văn L1 và bà Lê Thị Thanh T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu trên từ vợ chồng ông T4 vào năm 2019 với giá tiền khoảng 1,3 tỷ đồng. Thửa đất này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông bà thấy thửa đất này do vợ chồng ông T4 canh tác bình thường không có sự tranh chấp với vợ chồng ông T, đồng thời vợ chồng ông T4 cung cấp cho ông bà bản pho to đơn xin trả lại tiền mua bán đất của
ông T nên ông bà xác định đất không có tranh chấp. Vợ chồng ông T4 cũng đã có cam kết là đất chuyển nhượng không có tranh chấp, nếu có tranh chấp thì vợ chồng ông T4 sẽ trả lại tiền đã nhận và chịu tiền lãi theo quy định nên ông bà mới đồng ý mua và hiện đang xây dựng nhà trên đất để chuyển nhượng lại cho người khác. Nay vợ chồng ông T yêu cầu ông bà chấm dứt việc xây dựng nhà trên đất thì ông bà không đồng ý, mà vẫn đề nghị được tiếp tục xây dựng. Trường hợp Tòa án quyết định giao đất cho vợ chồng ông T thì vợ chồng ông T4 sẽ phải thanh toán lại tiền và chịu tiền lãi suất theo như thỏa thuận, đối với tài sản là công trình xây dựng trên đất thì ông bà sẽ không có yêu cầu bồi thường gì mà chấp nhận giao toàn bộ công trình đó cho ông T sử dụng. Trong vụ kiện này, ông bà không có yêu cầu gì.
Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2022/DS-ST ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã xét xử:
Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hợp T về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu buộc vợ chồng ông Đặng Văn L và bà Vũ Thị T1 bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hợp T đối với yêu cầu buộc vợ chồng ông Đặng Văn L và bà Vũ Thị T1 trả lại diện tích 2.225m² đất thuộc thửa đất số 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Ông Lê Hợp T được nhận lại số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đã nộp vào tài khoản số: 5902201003816 - chủ tài khoản: Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc tại Ngân hàng N2 - Chi nhánh X1.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 31/8/2022, nguyên đơn ông Lê Hợp T có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị TAND tỉnh Đồng Nai Sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 30/8/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc ban hành Quyết định kháng nghị số 461/QĐ-VKS-DS kháng nghị theo hướng đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai hủy bản án dân sự sơ thẩm với lý do:
- Ngày 22/9/2016 Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đến ngày 19/8/2022 Tòa án mới tiến hành xét xử vụ án nhưng không xem xét thẩm định tại chỗ lại xem phát sinh tài sản gì trên đất không.
- Vào ngày 05/8/2003 vợ chồng ông L, bà T1 cùng ông T thỏa thuận không tiếp tục chuyển nhượng QSDĐ và giao lại cho ông T số tiền 10.500.000 đồng và đưa trước số tiền 10.263.000 đồng nhưng chưa làm rõ đã đưa đủ số tiền trên chưa?
- Tòa án nhận định thời điểm ông T thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc Lô C - X thuộc phạm vi quản lý của Lâm trường X, diện tích đất này không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ nên việc chuyển nhượng của ông T là với bà T5 là trái quy định pháp luật nhưng Tòa án chưa xác minh nguồn gốc đất cũng như hỏi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định đất này có đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự tham gia phiên tòa đảm bảo đúng thủ tục, quyền, nghĩa vụ theo quy định.
Về nội dung kháng cáo:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hợp T về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Đặng Văn L bà Vũ Thị T1 trả lại cho ông quyền sử dụng đất thuộc thửa 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X tỉnh Đồng Nai. Cấp sơ thẩm giải quyết: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hợp T đối với yêu cầu buộc vợ chồng ông Đặng Văn L và bà Vũ Thị T1 trả lại diện tích 2.225m² đất thuộc thửa đất số 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Ông Lê Hợp T được nhận lại số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đã nộp vào tài khoản số: 5902201003816 - chủ tài khoản: Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc tại Ngân hàng N2 - Chi nhánh X1, là chưa đủ căn cứ, bởi lẽ:
Theo các đương sự trình bày thì vào tháng 4/2002 ông Lại Hợp T6 có nhận chuyển nhượng của bà Phùng Thị T5 (mẹ ông L bà T1) diện tích khoảng 2.000m² tọa lạc tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai với giá 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm ngàn đồng). Tuy nhiên, vào ngày 05/8/2003 ông Lại Hợp T6 và vợ chồng ông Đặng Văn L bà Vũ Thị T1 đã có sự giao trả lại tiền, theo “Đơn xin giao trả lại tiền v/v bán 0,2 ha đất thổ cư” ngày 05/8/2003 giữa ông Đặng Văn L bà Vũ Thị T1 và ông Lại Hợp T6 thể hiện “Hôm nay ngày 05/8/2023 anh T6 nhận đủ số tiền 10.263.000đ từ tay
anh L- chị T1, anh L - chị T1 còn nợ lại anh T6 237.000đ (Hai trăm ba mươi bảy ngàn đồng) hẹn đến ngày 05/10/2003 sẽ trả đủ cho anh T6. Nếu sai hẹn vợ chồng anh L – chị T1 sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Như vậy, vào ngày 05/8/2003, vợ chồng ông L, bà T1 cùng ông T6 thỏa thuận không tiếp tục chuyển nhượng và giao lại cho ông T6 số tiền 10.500.000 đồng và đưa trước số tiền 10.263.000 đồng. Tuy nhiên Tòa án chưa làm rõ việc thỏa thuận trả lại tiền giữa ông L và ông T6 để xác định nội dung thỏa thuận của các bên như thế nào, đối với số tiền còn thiếu 237.000 đồng vợ chồng ông L và bà T1 đã trả lại cho ông T6 chưa, trường hợp vợ chồng ông L bà T1 chưa trả hết số tiền còn thiếu thì việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T6 về việc buộc ông L bà T1 trả lại diện tích 2.225m² đất thuộc thửa đất số 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, thì vợ chồng ông L bà T1 phải có trách nhiệm thanh toán lại cho ông T6 số tiền còn thiếu tương đương với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm giải quyết. Đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm cũng không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá đối với diện tích 2.225m² đất thuộc thửa đất số 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án.
Do Tòa án cấp sơ thẩm quá trình giải quyết vụ án chưa thu thập đầy đủ chứng cứ vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên cần phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại, nên kháng cáo của nguyên đơn ông T6 đề nghị sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông cấp phúc thẩm sẽ không xem xét giải quyết mà sẽ được xem xét giải quyết lại ở cấp sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị HĐXX phúc thẩm: Áp dụng khoản 3 điều 308 BLTTDS, Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Xuân Lộc, Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 36/2022/DS-ST ngày 19/8/2022 của TAND huyện Xuân Lộc. chuyển hồ sơ cho TAND huyện Xuân Lộc giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Hợp T làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, thông báo dời lịch cho nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa chỉ có mặt ông T, ông T2, bà S1, còn các ông bà Đặng Văn Y, Đặng Văn N, Đặng Văn S1, Đặng Thị M, Đặng Thị N1, Đặng Văn K, Đặng Thị D, Đặng Văn M1, Trương Văn L1, Lê Thị Thanh T3, Phạm Thị T7, Nguyễn Thị Đ vắng mặt không có lý do nên Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự đưa ra xét xử vắng mặt đối với họ.
[2] Thẩm quyền giải quyết và xác định tư cách đương sự Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng.
[3] Đối với việc đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Lê Hợp T khởi kiện yêu cầu ông Đặng Văn L và bà Vũ Thị T1 trả lại quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, công nhận quyền sử dụng đất trên cho ông và yêu cầu bồi thường Thanh Long, cây điều trên đất. (bl 92).
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, ông T chỉ yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông L và bà T1 trả lại quyền sử dụng đất đã chiếm, không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản. Do đó, Tòa án đã đình chỉ giải quyết đối với 02 yêu cầu này là phù hợp.
[4] Xét nội dung kháng cáo của ông Lê Hợp T và kháng nghị yêu cầu hủy bản án sơ thẩm như sau:
Nguyên đơn ông Lê Hợp T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Đặng Văn L, bà Vũ Thị T1 trả lại cho ông quyền sử dụng đất thuộc thửa 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X tỉnh Đồng Nai.
Qua xem xét các tài liệu chứng cứ đã đủ cơ sở xác định: Ngày 17/4/2002, ông T nhận chuyển nhượng của bà T5 quyền sử dụng đất diện tích khoảng 0,2ha với giá chuyển nhượng là 10.500.000 đồng. Hai bên có lập giấy viết tay có ông L là con của bà T5 ký xác nhận. Thời điểm chuyển nhượng, đất thuộc Lô C - X thuộc phạm vi quản lý của Lâm trường X nhưng chưa được Lâm trường giao khoán cho ai sử dụng.
Nguồn gốc thửa đất do bà T5 nhận chuyển nhượng của người khác từ năm 1988, sau đó cho hai người con là ông L và ông Y canh tác từ năm 1993. Ngày 16/4/2002, ông L và ông Y làm giấy trả lại đất cho bà T5 và được bà T5 chuyển nhượng lại cho ông T vào ngày 17/4/2002.
Xét thấy, tại thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà T5 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không được Lâm trường Xuân Lộc giao đất sử dụng bằng hợp đồng giao khoán sử dụng đất, ngoài ra bà T5 cũng không có bất kỳ giấy tờ gì khác do cơ quan có thẩm quyền cấp. Bên cạnh đó, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và bà T5 không được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý đất đai, đồng thời sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì xảy ra tranh chấp và ông T không canh tác đất từ đó cho đến nay. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T5 với ông T vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập.
Nguyên đơn yêu cầu vợ chồng ông Đặng Văn L, bà Vũ Thị T1 trả lại cho ông quyền sử dụng đất thuộc thửa 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X tỉnh Đồng Nai là yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên quan hệ tranh chấp là Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là Tranh chấp quyền sử dụng đất là sai, dẫn đến không giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng là không giải quyết triệt để vụ án.
Theo hồ sơ và lời khai các đương sự thể hiện: Ngày 05/8/2003 ông Lê Hợp T và vợ chồng ông Đặng Văn L bà Vũ Thị T1 đã có sự giao trả lại tiền, theo “Đơn xin giao trả lại tiền v/v bán 0,2 ha đất thổ cư” ngày 05/8/2003 giữa ông Đặng Văn L bà Vũ Thị T1 và ông Lê Hợp T thể hiện “Hôm nay ngày 05/8/2023 anh T nhận đủ số tiền 10.263.000đ từ tay anh L- chị T1, anh L - chị T1 còn nợ lại anh T 237.000đ hẹn đến ngày 05/10/2003 sẽ trả đủ cho anh T. Nếu sai hẹn vợ chồng anh L – chị T1 sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Như vậy, vào ngày 05/8/2003, vợ chồng ông L, bà T1 cùng ông T thỏa thuận không tiếp tục chuyển nhượng và giao lại cho ông T số tiền 10.500.000 đồng và đưa trước số tiền 10.263.000 đồng. Như vậy, việc mua bán diễn ra giữa bà T5 với ông T nhưng thỏa thuận trả lại tiền lại diễn ra giữa ông L, bà T1 với ông T nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ tại sao bà T5 không
đứng ra thỏa thuận mà lại là ông L, bà T1 đứng ra thỏa thuận, chưa làm rõ việc thỏa thuận trả lại tiền giữa ông L, bà T1 và ông T để xác định nội dung thỏa thuận của các bên như thế nào, đối với số tiền còn thiếu 237.000 đồng vợ chồng ông L và bà T1 đã trả lại cho ông T chưa, trường hợp vợ chồng ông L bà T1 chưa trả hết số tiền còn thiếu thì việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc buộc ông L bà T1 trả lại diện tích 2.225m² đất thuộc thửa đất số 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, thì vợ chồng ông L bà T1 phải có trách nhiệm thanh toán lại cho ông T số tiền còn thiếu tương đương với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm giải quyết. Đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm cũng không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá đối với diện tích 2.225m² đất thuộc thửa đất số 338 tờ bản đồ số 64 xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án.
Do Tòa án cấp sơ thẩm quá trình giải quyết vụ án chưa thu thập đầy đủ chứng cứ, xác định sai quan hệ tranh chấp dẫn đến giải quyết vụ án không triệt để. Cần chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông T và kháng nghị của Viện kiểm sát, hủy bản án sơ thẩm
[5] Xét quan điểm của Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Do bản án dân sự sơ thẩm bị hủy các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Riêng phần án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng sẽ được giải quyết khi vụ án được tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
- Hủy bản án sơ thẩm số 36/2022/DSST ngày 19-08-2022 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc giải quyết theo thủ tục chung.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quyên |
Bản án số 174/2023/DS-PT ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 174/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hủy bản án
