|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 174/2024/DS-PT Ngày 09 - 8 - 2024 |
|
|
V/v: tranh chấp quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hà Giang;
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Việt Hùng và ông Đặng Văn Quyết;
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 10/7/2024 và ngày 09/8/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2024/TLPT- DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 về “tranh chấp quyền sử dụng đất” do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS – ST ngày 18 tháng 03 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 93/2024/QĐ-PT ngày 29/03/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 193/2024/QĐ-PT ngày 28/6/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 111/2024/QĐ-PT ngày 10/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984 (vắng mặt) do bà Trương Thị C, sinh năm 1964 đại diện theo ủy quyền (có mặt);
Đều có địa chỉ: thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: chị Chu Thị T, sinh năm 1980 (vắng mặt) do ông Chu Văn T1, sinh năm 1954 đại diện theo ủy quyền (có mặt);
Đều có địa chỉ: thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1988 (vắng mặt) do bà Trương Thị C, sinh năm 1964 đại diện theo ủy quyền (có mặt);
- Ông Chu Văn T1, sinh năm 1954 (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1956 (có mặt);
Đều có địa chỉ: thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bà Ngô Thị S, sinh năm1984 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1955 (có mặt);
- Ông Ngô Quang H1, sinh năm 1953 (vắng mặt tại phiên tòa ngày 10/7/2024, có mặt tại phiên tòa ngày 09/8/2024);
Đều có địa chỉ: tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- UBND huyện L do ông Đào Quang D, Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L, tỉnh Bắc Giang đại diện theo ủy quyền (vắng mặt)
Người kháng cáo: nguyên đơn – anh Nguyễn Văn H;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS – ST ngày 18/03/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn - anh Nguyễn Văn H và đại diện theo ủy quyền của anh H, bà Trương Thị C trình bày: ngày 01/5/2015 âm lịch anh Nguyễn Văn H và vợ là chị Nguyễn Thị P nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là QSDĐ) diện tích 231,1m2 tại thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang của chị Ngô Thị S. Ngày 12/11/2015 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số CA776600, số vào sổ số CH 01835 QĐ số 1926 /QĐ-UBND cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị P. Tài sản gắn liền với đất không có, gia đình cũng không xây tường vành lao bao quanh. Nguồn gốc thửa đất trên là của ông Ngô Quang H1 và bà Nguyễn Thị K tặng cho chị S, sau đó chị S chuyển nhượng cho anh H, chị P. Giáp với thửa đất của anh H, chị P là thửa đất của ông Chu Văn T1 và bà Nguyễn Thị Bảo t cho con gái là chị Chu Thị T. Ngày 15/02/2022 dương lịch ông T1 đã xây hai hàng cay làm tường vành lao lấn sang phần đất của vợ chồng anh H khoảng 119,37m2. Hai bên gia đình đã được xã hòa giải nhiều lần nhưng không thành.
Nay anh H yêu cầu chị Chu Thị T phải trả lại vợ chồng anh diện tích 119,37m2 đất và tháo dỡ hàng cay xây trên phần đất lấn chiếm tại thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn – chị Chu Thị T do ông Chu Văn T1 đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông là bố đẻ của chị T. Ngày 20/4/2015 dương lịch ông và vợ là Nguyễn Thị B có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Ngô Quang H1 và bà Nguyễn Thị K, ông là người viết giấy chuyển nhượng, có ông bà H1, K ký tên người bán, ông và bà B vợ ông ký tên người mua. Nội dung ông bà Hải K1 bán cho vợ chồng ông một thửa đất tại thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang có chiều rộng 5m, chiều dài 60m, tổng là 300m2 với giá 257.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng bà K1 là người đi làm thủ tục sang tên cho vợ chồng ông, khi công chức địa chính xã L đến đo đạc đất thì ông và bà K1 cùng có mặt. Đất đã được UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang cấp GCNQSDĐ số CA 621894, số vào sổ cấp GCN: CH 01628; QĐ số 1346/QĐ-UBND ngày 18/8/2015 cho ông Chu Văn T1 và bà Nguyễn Thị B. Ngày 06/12/2017 vợ chồng ông tặng cho con gái là chị Chu Thị T, ngày 12/12/2017 được Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đăng ký biến động cho chị T. Thửa đất của gia đình ông đến nay không có tài sản gì gắn liền với đất, ông đo đủ đất và xây hai hàng cay ngăn cách với thửa đất bên trái và bên phải liền kề.
Vợ chồng ông là người mua đất trước anh H và chị P. Nay anh H cho rằng chị T là người lấn chiếm đất của anh H là không đúng. Anh H yêu cầu trả lại đất thì gia đình ông không đồng ý vì gia đình ông không lấn chiếm đất của ai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị K trình bày: gia đình bà có thửa đất diện tích chiều rộng 40m bám mặt đường liên xã L, huyện L, chiều dài 60m, gia đình bà chia làm 8 lô, mỗi lô chiều rộng 5m, chiều dài 60m, bà đã cho và chuyển nhượng hết. Khi cho và chuyển nhượng các thửa đất trên thì bên mua đều mời địa chính xã L, huyện L đến đo đất và đã giao đất xong, đến nay các hộ đều được cấp GCNQSDĐ, khi cấp GCNQSDĐ có Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L về đo đạc vị trí đất. Còn lại lô thứ 8 là lô bán sau cùng năm 2015 cho ông Chu Văn T1, hai bên không đo đạc và chưa giao đất hiện trạng, bà có nói với ông T1 là khi nào đo đất thì gọi công chức địa chính xã, gọi bà và hai hộ liền kề đến để chứng kiến nhưng khi bà hỏi thì ông T1 nói là đã được GCNQSDĐ. Việc mua, bán đất giữa vợ chồng bà và vợ chồng ông T1, bà B đã xong từ lâu không có vướng mắc gì, do Tòa án triệu tập bà là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên bà trình bày sự việc như vậy. Năm 2007 vợ chồng bà tặng cho con gái là Ngô Thị S thửa đất có diện tích 231,1m2 đất ở, chị S đã được cấp GCNQSDĐ. Ngày 01/5/2015 âm lịch chị S chuyển nhượng cho anh H và chị P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND huyện L do ông Đào Quang D đại diện theo ủy quyền trình bày: về nguồn gốc sử dụng đất, hồ sơ cấp GCNQSDĐ: ông H và bà P được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ đất sê ri CA 776600, số vào sổ CH 01835, theo Quyết định số 1926/QĐ-UBND ngày 12/11/2015 có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của bà Ngô Thị S; Ông Chu Văn T1 và bà Nguyễn Thị B được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ sê ri CA 621894, số vào sổ CH 01628, theo Quyết định số 1346/QĐ-UBND ngày 18/8/2015 có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của ông Ngô Quang H1 và bà Nguyễn Thị K, sau đó ông T1 và bà Bảo t cho con gái là Chu Thị T. Quá trình lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ, hồ sơ đăng ký biến động cho những ông bà nêu trên là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. UBND huyện L cung cấp cho Tòa án: đơn xin cấp GCNQSDĐ, hợp đồng, chuyển nhượng QSDĐ; GCNQSDĐ phô tô; trích lục bản đồ địa chính thửa đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị B trình bày thống nhất với ông Chu Văn T1, không bổ sung thêm gì.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS - ST ngày 18 tháng 03 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã căn cứ Điều 174, 175, 176, 245, 248 của BLDS 2015; Điều 166, 167, 168, 170, 171 của Luật đất đai 2013. Xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H yêu cầu chị Chu Thị T phải trả lại anh H diện tích 119,37m2 đất, có trị giá 1.551.810.000 đồng và tháo dỡ hàng cay xây dựng trên đất trị giá 240.000 đồng, đồng tại thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các bên đương.
Ngày 27/03/2024, anh Nguyễn Văn H kháng cáo đề nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm, xử lại theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện cùa nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khơi kiện và kháng cáo hủy bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày tranh luận: anh H nhận chuyển nhượng QSDĐ của chị S, không nhận chuyển nhượng đất của bà K. QSDĐ của chị S có trước của chị T. Chị T mua đất của bà K sau nên diện tích đất tranh chấp là của anh H. Đề nghị HĐXX xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T1 đại diện theo ủy quyền của chị T trình bày tranh luận: vợ chồng tôi mua đất của vợ chồng bà K gần 300m2 sau tặng cho con gái là chị T1. Chị T xây tường bao đất đúng diện tích, ranh giới nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H cũng như ý kiến trình bày của bà C. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà B trình bày đồng ý ý kiến trình bày trên của ông T1.
Bà K trình bày: tôi và ông T1 thỏa thuận chuyển nhượng diện tích đất này là sau cùng nên còn bao nhiêu thì chuyển nhượng bằng đó và phải yêu cầu cán bộ địa chính đến đo đạc đất để làm GCNQSDĐ cho ông T1 nhưng ông T1 không thực hiện mà tự ý đi làm sổ GCNQSDĐ, không mời địa chính đo đất nên tôi không đồng ý ý kiến của ông T1.
Ông H1 nhất trí trình bày của bà K.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, HĐXX đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của anh H, các tình tiết, chứng cứ liên quan, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 05/2024/DS – ST ngày 18/03/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam. Anh H được miễn án phí dân sự phúc thẩm do là người khuyết tật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm đại diện UBND huyện L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét kháng cáo của anh H, HĐXX thấy: nguồn gốc thửa đất có tranh chấp: ông Ngô Quang H1 và bà Nguyễn Thị K có thửa đất tại thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang; ông H1 và bà K chia tách làm 8 thửa, tặng cho con gái Ngô Thị S 02 thửa và chuyển nhượng 06 thửa còn lại cho những người khác trong đó có vợ chồng ông Chu Văn T1 và bà Nguyễn Thị B.
Sau khi được tặng cho đất, ngày 01/5/2015 (âm lịch) chị S chuyển nhượng thửa đất diện tích 231,1m2 tại thôn T, xã L, huyện L cho anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị P. Ngày 12/11/2015 anh H, chị P được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ số CA776600, số vào sổ số CH 01835 QĐ số 1926 /QĐ-UBND. (liền kề với thửa đất của chị Chu Thị T).
Sau khi nhận chuyển nhượng QSDĐ của ông H1, bà K, ông T1, bà B được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ số CA 621894, số vào sổ cấp GCN: CH 01628; QĐ số 1346/QĐ-UBND ngày 18/8/2015 diện tích 220,6m2. Ngày 06/12/2017 ông T1, bà Bảo t cho con gái là Chu Thị T, ngày 12/12/2017, Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đăng ký biến động sang tên chị T tại trang IV GCNQSDĐ.
Cả hai thửa đất trên đều chưa xây dựng công trình gì trên đất. Ngày 15/02/2022, ông T1 xây hai hàng cay bao quanh thửa đất thì anh H, chị P cho rằng chị T lấn chiếm sang phần đất của anh H 119,37m2 nên anh H yêu cầu chị T phải trả lại vợ chồng anh diện tích 119,37m2 đất và tháo dỡ hàng cay xây dựng trái phép trên phần đất của anh H.
[3] Theo UBND huyện L việc cấp GCNQSDĐ cho anh H, chị P và ông T1, bà B cũng như việc đăng ký biến động cho chị T đều đảm bảo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và nội dung. Khi cấp GCNQSDĐ cơ quan chuyên môn đã đo đạc, xác định vị trí đất của từng hộ nhưng do các hộ không đánh dấu mốc giới, ranh giới nên nay các hộ không tự xác định được vị trí đất của mình dẫn đến xác định hiện trạng đất không đúng so với GCNQSDĐ được cấp.
[4] Qua xem xét sơ đồ đo đạc và kết quả thẩm định tại chỗ của Tòa án sơ thẩm đối với 08 thửa đất của các hộ liền kề nhau, xác định: Phần đất hiện trạng của chị T theo sơ đồ có các điểm 1, 2, 3, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 14, 15, 16, 17, diện tích 221,3 m2, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chị T được cấp là 220,6m2. Phần đất theo bà C chỉ có các điểm 2, 3, 4, 5, 6,7, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 diện tích 248m2, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh H, chị P được cấp có diện tích tích 231,1m2 (thừa 16,9m2). Phần đất hiện trạng của anh H, chị P có các điểm là 3, 4, 5, 6, 11, 12, 13, 14, có diện tích là 157,1m2, thiếu 74m2.
Xác định phần đất các bên có tranh chấp theo sơ đồ đo đạc có các điểm 2, 3, 6, 7, 10, 11, 14, 15, 16, diện tích 90,9m2 có các cạnh: 2-3 dài 2.34m; 3-6 dài 13.74; 6-7 dài 2.06m; 10-11 dài 2.02m; 11-14 dài 35.44m; 14-15 dài 1.65m; 15-16 dài 0.25m hiện nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chị T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, diện tích đất chị T được cấp GCNQSDĐ là 220,6m2 so với diện tích đo đạc thực tế là 221,3 m2, không có việc chị T lấn chiếm đất của anh H 90,9m2.
[5] HĐXX tạm ngừng phiên tòa để giám định chữ ký, chữ viết trong giấy nhượng đất ngày 30/6/2015 giữa ông H1, bà K và ông T1, bà B.
Tại kết luận giám định số 1742/KL-KTHS ngày 08/8/2024 kết luận chữ ký, chữ viết “Kiểm – Nguyễn Thị K” dưới mục người viết đơn tại mẫu cần giám định so với chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thị K là do cùng một người ký, viết ra.
Từ những phân tích trên, bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, phía người kháng cáo không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh H.
[6] Về chi phí giám định: tại cấp phúc thẩm bà K yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết. Kết quả xác định chữ ký, chữ viết trong các tài liệu cần giám định đúng là chữ ký, chữ viết của bà K nên bà K phải chịu toàn bộ chi phí giám định là 3.240.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 161 của BLTTDS.
[7] Về án phí: kháng cáo của anh H không được chấp nhận nên anh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên anh H là người khuyết tật nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 và Điều 310 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Xử: không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 05/2024/DS - ST ngày 18 tháng 03 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Về chi phí giám định: bà Nguyễn Thị K phải chịu 3.240.000 đồng, xác nhận bà K đã nộp đủ số tiền trên.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: anh Nguyễn Văn H là người khuyết tật nên được miễn toàn bộ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 174/2024/DS-PT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 174/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh H chị T
