|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 174/2024/HS - ST
Ngày: 09/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tòng Văn Hưng.
Bà Nguyễn Thị Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 158/2024/TLST-HS ngày 23/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2024/QĐXXST-HS ngày 05/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số : 36/2024/HSST-QĐ ngày 19/7/2024 đối với Bị cáo:
1. Họ và tên: Giàng Pó C; Sinh năm 1979, tại: Điện Biên; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không; Nghề nghiệp Làm nương; Con ông: Giàng A C1 (đã chết); Con bà: Thào Thị G; Sinh năm: 1965; Bị cáo có vợ: Sùng Thị Pà D; Sinh năm: 1998; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012; con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/4/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Nguyên đơn dân sự: UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lường Văn B - Chức vụ: Chủ tịch UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lường Văn B: Ông Lò Văn T - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Quyết định về việc ủy quyền số: 33/QĐ-UBND ngày 03/5/2024) (vắng mặt có lý do).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thái B1 - Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thái B1: Ông Chu Văn B2 - Chức vụ: Trưởng Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Quyết định về việc ủy quyền số: 2194/QĐ- UBND ngày 01/8/2024) (vắng mặt có lý do).
- Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Sùng A M; sinh năm: 2004. Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Điện Biên (có mặt tại phiên tòa).
- Người tố giác: Ông Thào A L; sinh năm: 1965. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2012, bị cáo Giàng Pó C có làm nương tại khu vực đồi thuộc bản Noong É, xã M, huyện Đ, nhưng sau đó do đất bạc màu nên từ năm 2012 đến tháng 02/2023, bị cáo C không canh tác, trồng trọt tại khoảnh nương đó nữa. Tại khu vực rừng thuộc khoảnh 5, tiểu khu H, bản N, xã M, huyện Đ cây cối đã mọc với chiều cao vút ngọn trung bình là 7,67m, đường kính cây gỗ trung bình là 12,82cm. Năm 2022, Bị cáo có tham gia một buổi tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng tại nhà Trưởng bản N, xã M, huyện Đ, nhưng sau đó do Bị cáo C không có đất đồi làm nương nên không tham gia các buổi tuyên truyền về bảo vệ rừng nữa. Từ năm 2021 đến tháng 02/2023, UBND xã M, huyện Đ phối hợp với kiểm lâm địa bàn và các tổ chức liên quan tổ chức nhiều buổi tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người dân bản N, xã M, huyện Đ về bảo vệ rừng và ký cam kết bảo vệ rừng. Bị cáo biết có các buổi tuyên truyền trên nhưng không tham gia. Bản thân Bị cáo nhận thức được việc chặt phá khu vực có rừng cây to, rậm rạp là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên vào khoảng tháng 02/2023, do không có đất làm nương, Bị cáo đã không xin phép chính quyền địa phương, không bàn bạc với ai mà một mình đi đến khoảnh E, tiểu khu H, thuộc bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên với mục đích chặt phá cây rừng, đốt làm nương. Khi đi Bị cáo mang theo cơm nắm và một con dao phát (dao quắm) bằng kim loại, cán gỗ dài 74cm, lưỡi dao dài 26cm, lên khu vực rừng thuộc khoảnh 5, tiểu khu H, bản N, xã M, huyện Đ. Khi lên gần đến nơi, Bị cáo đi bộ lên khu vực rừng, đến nơi Bị cáo thấy rừng cây rậm rạp, có nhiều cây có đường kính to bằng bắp đùi và bắp tay người lớn. Bị cáo dùng con dao quắm chặt cây theo chiều từ dưới chân đồi lên trên, đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày nghỉ ăn cơm tại chỗ. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Bị cáo tiếp tục chặt phá cây rừng, đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì Bị cáo đi về. Bị cáo đã thực hiện việc chặt phá rừng với diện tích 8.275m² trong 03 ngày liên tiếp. Sau khi chặt cây xong, Bị cáo để cây khô, héo với mục đích đốt để làm nương, nhưng chưa kịp đốt thì bị Hạt kiểm lâm huyện Đ phát hiện, thụ lý giải quyết. Ngày 26/4/2023, Hạt Kiểm lâm huyện Đ kết luận: Bị cáo đã thực hiện hành vi phá rừng trái pháp luật tại khoảnh E, tiểu khu H, thuộc bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên và tiến hành thụ lý giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Ngày 09/5/2023 Hạt kiểm lâm huyện Đ phối hợp với các cơ quan tiến hành khám nghiệm hiện trường rừng và diện tích rừng Bị cáo chặt phá. Bằng phương pháp cầm máy định vị vệ tinh GPS đo đạc diện tích rừng bị chặt phá. Kết quả như sau:
Hiện trường chung: Hiện trường xảy ra vụ phát phá rừng trái phép, mức độ thiệt hại cây là 100%; Loại rừng: Sản xuất tại: khoảnh E, tiểu khu H, bản N, xã M, huyện Đ (phía Đ, T1, N, B3 đều giáp với rừng khoảnh 5, tiểu khu H, bản N, xã M, huyện Đ).
Hiện trường cụ thể: Toàn bộ diện tích rừng bị phá hủy có tổng diện tích là: 8.275m². Toàn bộ các cây đều bị chặt bằng dao, các thân cân còn nguyên tại hiện trường, chưa bị đốt, dọn, lá cây đã khô. Tổng số gốc cây bị chặt phá là 1.744 cây. Trong đó: 403 cây có d1.3 ≥ 8 cm và 1341 cây có d1.3 < 8 cm; Tổng trữ lượng gỗ trung bình trên 01 ha: 22,353 m³/ha; Tổng trữ lượng (cây gỗ) bị thiệt hại: 18,497 m³/8.275 m.
Tại bản kết luận giám định số: 53/KL- GĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Giám định viên tư pháp, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đ thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đ kết luận: Khu vực rừng bị chặt phá trái pháp luật tại khoảnh E, tiểu khu H, thuộc địa phận khu vực rừng bản Noong É, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên tại thời điểm tổ công tác tiến hành kiểm tra, khám nghiệm hiện trường là rừng; Thuộc rừng tự nhiên, loại rừng sản xuất; Trạng thái rừng: Rừng tự nhiên thứ sinh gỗ núi đất lá rộng thường xanh nghèo kiệt (ký hiệu TXK); Diện tích rừng bị phá: 8.275m²; Trữ lượng rừng trên diện tích rừng bị phá (8.275m²): 18,497 m³; Diện tích rừng bị chặt phá 8.275 m² chưa giao, chưa cho thuê, hiện UBND xã M đang quản lý theo khoản 3 Điều 102 Luật Lâm nghiệp.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 36/KL-ĐGTS ngày 15/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Đ kết luận: Giá trị thiệt hại tổng diện tích 8.275 m² (0,8275 ha) là 31.365.229 đồng; Giá trị thiệt hại về môi trường: Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Đ không có căn cứ và cơ sở nào để xác định.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Đ và Đại diện theo ủy quyền của UBND xã M, huyện Đ trình bày: Diện tích rừng Bị cáo chặt phá chưa giao, chưa cho thuê do UBND xã M, huyện Đ quản lý, bảo vệ. Yêu cầu Bị cáo bồi thường nộp ngân sách nhà nước số tiền 31.365.229 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá trên của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ.
Tại bản cáo trạng số: 96/CT-VKSHĐB ngày 21/5/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, đã truy tố bị cáo Giàng Pó C về tội: Hủy Hoại rừng, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 36/BLHS; Điều 125/BLTTHS.
Đề nghị xử phạt bị cáo Giàng Pó C: Từ 30 tháng đến 36 tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát, giáo dục Bị cáo. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho Bị cáo. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 15/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với Giàng Pó C.
Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Giàng Pó C phải có trách nhiệm bồi thường cho Nhà nước số tiền là: 31.365.229 đồng, Bị cáo đã tự nguyện bồi thường được 10.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số: 0000 139 ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên). Buộc Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho Nhà nước số tiền còn lại là: 21.365.229 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 Con dao quắm có lưỡi dao, chuôi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ; Tổng chiều dài là 74cm; Lưỡi dao dài 26cm; Chuôi dao dài 10cm; Cán gỗ dài 46cm, đường kính 2,5cm; Bản rộng nhất của lưỡi dao là 5cm; Mỏ quắm dài 9cm, dao đã cũ, qua sử dụng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
Tại phiên tòa, Bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Đại diện viện Kiểm sát không có tranh luận gì với viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng Bị cáo: Bị cáo không được đi học, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, gia đình Bị cáo quá khó khăn, bản thân Bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo, để cho Bị cáo cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng vợ, con.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa lời khai của Bị cáo, của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định: Trong tháng 02 năm 2023, tại khu rừng sản xuất thuộc khoảnh 5, tiểu khu H, bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Bi cáo có hành vi sử dụng dao quắm chặt phá trái phép 8.275 m² rừng sản xuất, gây thiệt hại tài sản trên diện tích bị chặt phá là 31.365.229 đồng. Hành vi trên của Bị cáo được chứng minh tại: Biên bản đo đếm diện tích, biên bản làm việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá, kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai, nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Vì vậy hành vi nêu trên của Bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: " Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Điều 243 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m²) đến dưới 10.000 mét vuông (m²)”.
Bị cáo Giàng Pó C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố Bị cáo về tội: "Hủy hoại rừng" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật, Bị cáo không bị oan sai.
[2] Về tính chất của vụ án: Hành vi dùng dao quắm chặt phá rừng của Bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ môi trường, chế độ bảo vệ và phát triển, gây thiệt hại rất lớn đến môi trường sinh thái, làm gia tăng các biến đổi khí hậu do tác hại của việc hủy hoại rừng gây ra và xâm phạm đến tài sản của Nhà nước. Mặc dù Bị cáo nhận thức được hành vi chặt phá rừng trái phép là vi phạm pháp luật nhưng do gia đình Bị cáo khó khăn thuộc hộ cận nghèo tại địa phương, gia đình Bị cáo thiếu đất sản xuất nên Bị cáo đã thực hiện hành vi Hủy hoại rừng. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm những quy định của nhà nước về bảo vệ rừng của nhà nước. Do vậy cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi của Bị cáo có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe Bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, của các Bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra tại xã M, huyện Đ, không được đi học. Năm 2011 kết hôn với chị Sùng Thị Pà D và có 02 người con chung, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án; tiền sự: Không.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục được một phần thiệt hại cho Nhà nước nên Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy rằng, Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được đi học, hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, lần đầu phạm tội có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, đã khắc phục được một phần thiệt hại, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Bị cáo là lao động chính trong gia đình, 02 con còn nhỏ cần người chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, Bị cáo phạm tội một phần là do điều kiện kinh tế quá khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo, thiếu đất sản xuất nên mới phạm tội. Xét thấy, cần tạo cơ hội cho Bị cáo lao động, sản xuất nuôi dưỡng, chăm sóc vợ con, hòa nhập cộng đồng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho Bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục Bị cáo, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho Bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cho thấy Bị cáo ngoài làm nương ra không có nghề nghiệp, thu nhập gì khác, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.
[5] Về khấu trừ một phần thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự thì Bị cáo còn phải khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, Bị cáo làm nương, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên miễn việc khấu trừ thu nhập cho Bị cáo.
[6] Về bồi thường thiệt hại: Tại Cơ quan điều tra Nguyên đơn dân sự (UBND xã M, huyện Đ) yêu cầu Bị cáo phải bồi thường cho Nhà nước số tiền là: 31.365.229 đồng và Bị cáo cũng đã đồng ý. Ngày 14/5/2024 Bị cáo đã tự nguyện bồi thường được 10.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số: 0000 139 ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên). Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho Nhà nước số tiền còn lại là: 21.365.229 đồng. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự tại Cơ quan điều tra. Vì vậy HĐXX cần chấp nhận.
Đối với thiệt hại về môi trường: Do không định giá thiệt hại về mặt môi trường do hành vi hủy hoại rừng gây ra. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập vấn đề thiệt hại về mặt môi trường trong vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về vật chứng của vụ án: 01 Con dao quắm có lưỡi dao, chuôi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ; Tổng chiều dài là 74cm; Lưỡi dao dài 26cm; Chuôi dao dài 10cm; Cán gỗ dài 46cm, đường kính 2,5cm; Bản rộng nhất của lưỡi dao là 5cm; Mỏ quắm dài 9cm, dao đã cũ, qua sử dụng Bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với các cây gỗ đã bị chặt là vật chứng của vụ án sau khi khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra không thực hiện thu gom, tạm giữ mà để tại hiện trường và giao cho ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ quản lý. Do thời gian đã lâu các cây gỗ để ngoài hiện trường đã bị mục nát, không còn giá trị, nên không đặt vấn đề xử lý.
[8] Các vấn đề khác của vụ án:
Về sự vắng mặt của Người Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn dân sự; Người Đại diện theo ủy quyền của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Người tố giác, những người trên đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra Người Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn dân sự; Người Đại diện theo ủy quyền của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Người tố giác đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt những người trên theo quy định của pháp luật.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật
[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên Bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc hộ cận nghèo, sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa Bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử quyết định. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
Tại cơ quan điều tra Nguyên đơn dân sự (UBND xã M, huyện Đ) yêu cầu Bị cáo phải bồi thường cho Nhà nước số tiền là: 31.365.229 đồng. Ngày 14/5/2024 Bị cáo đã tự nguyện bồi thường được 10.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số: 0000 139 ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên). Buộc Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho Nhà nước số tiền còn lại là: 21.365.229 đồng. Bị cáo đồng ý và không có ý kiến gì. Căn cứ vào điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Nguyên đơn dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của bộ luật hình sự.
- Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với Bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ do Bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định.
- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Giàng Pó C phải có trách nhiệm bồi thường cho Nhà nước số tiền là: 31.365.229 đồng. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường được 10.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số: 0000 139 ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên). Buộc Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho Nhà nước số tiền còn lại là: 21.365.229 đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS:
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
- Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong khoản tiền bồi thường cho Nhà nước, nếu bị cáo không tự nguyện thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333/BLTTHS. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/8/2024).
Tuyên bố: Bị cáo Giàng Pó C, phạm tội: “Hủy hoại rừng”.
- Xử phạt Bị cáo: 30 (Ba mươi) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên giám sát giáo dục. Gia đình Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục Bị cáo trong thời gian chấp hành án. Trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 15/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với Giàng Pó C.
Tịch thu tiêu hủy: 01 Con dao quắm có lưỡi dao, chuôi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ; Tổng chiều dài là 74cm; Lưỡi dao dài 26cm; Chuôi dao dài 10cm; Cán gỗ dài 46cm, đường kính 2,5cm; Bản rộng nhất của lưỡi dao là 5cm; Mỏ quắm dài 9cm, dao đã cũ, qua sử dụng
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/5/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên).
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự - người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường thiệt hại, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Bản án số 174/2024/HS - ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hủy hoại rừng (vụ án hình sự)
- Số bản án: 174/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Giàng Pó C, phạm tội: “Hủy hoại rừng”. - Xử phạt Bị cáo: 30 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã M L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên giám sát giáo dục. Gia đình Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục Bị cáo trong thời gian chấp hành án. Trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.
