TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 174/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09/5/2024
V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Nguyên Lâm;
- Ông Nguyễn Văn Hải;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thế Tài – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 2000; HKTT: thôn P, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Thế K, sinh năm 1999; HKTT: thôn P, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn xin ly hôn ngày 23/2/2024 và lời khai trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Bùi Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Thế K lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 11/3/2021 tại UBND xã A, huyện H, Hà Nội trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, suy nghĩ khác nhau, thường xuyên xảy ra xung đột dẫn đến tình cảm vợ chồng sứt mẻ, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không thành, vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K, đề nghị giải quyết sớm để chị ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị và anh K có 01 con chung là Nguyễn Bảo A, sinh ngày 15/10/2021. Sức khỏe con chung bình thường, hiện chị đang nuôi dưỡng con chung. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị đang làm nghề tự do, thu nhập khoảng 7.500.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nhà ở chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh K hiện đang bị tạm giam nên đề nghị Tòa án không tiến hành thủ tục hòa giải. Ngoài ra, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/4/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã S, bị đơn – anh Nguyễn Thế K trình bày:
Anh và chị Bùi Thị H lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 11/3/2021 tại UBND xã A, huyện H, Hà Nội trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà của bố mẹ anh ở thôn P, xã A, huyện H, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh mải chơi, không quan tâm đến vợ con, gia đình. Tháng 5/2023 chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở và vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi từ đó cho đến nay. Tháng 12/2023 anh bị Công an thị xã S bắt, khởi tố về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hồ sơ vụ án hiện do TAND thị xã Sơn Tây thụ lý. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể khắc phục được, chị H xin ly hôn thì anh đồng ý và đề nghị Toà án không hoà giải.
Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là Nguyễn Bảo A, sinh ngày 15/10/2021. Sức khỏe con chung bình thường, hiện chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con thì anh đồng ý vì hiện nay anh đang bị tạm giam nên không có điều kiện trực tiếp nuôi con. Về cấp dưỡng, đề nghị tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh. Về tài sản chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về công nợ: Anh xác định vợ chồng không vay nợ ai và không ai vay nợ của vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án hôn nhân gia đình và thông báo về các tài liệu do chị H giao nộp. Anh không có ý kiến gì về các tài liệu đó và không có tài liệu gì giao nộp cho Toà án, không có ý kiến gì, không yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập thêm tài liệu chứng cứ, không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm ai. Vì điều kiện hiện nay đang bị tạm giam nên anh đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng của Tòa án các cấp. Ngoài ra, anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.
Tại phiên tòa:
- Chị H vẫn giữ nguyện vọng xin ly hôn, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Về con chung, tài sản chung, nhà ở chung, công nợ chị vẫn giữ nguyện vọng như đã trình bày. Ngoài ra chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, thực hiện đúng quy định về thủ tục lấy lời khai, tiến hành công khai chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác. Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, đảm bảo thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện và xét xử theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Về con chung: chấp nhận yêu cầu của chị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh K không phải cấp dưỡng. Về tài sản chung, nhà ở chung, về công nợ, anh chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về án phí, chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Tại Đơn xin ly hôn của chị Bùi Thị H thể hiện bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã A, huyện H, Hà Nội. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân gia đình trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1. Về hôn nhân:
Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Thế K lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 11/3/2021 tại UBND xã A, huyện H, Hà Nội, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét, chị H và anh K chung sống một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không hợp trong tính cách dẫn đến cuộc sống thường xuyên xảy ra va chạm. Tháng 12 năm 2023, anh K vi phạm pháp luật nên bị tạm giam. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, chị có nguyện vọng xin ly hôn anh K để được ổn định cuộc sống. Anh K xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ lâu nên anh đồng ý ly hôn.
Có thể thấy, tình trạng hôn nhân của chị H và anh K đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
2.2. Về con chung:
Chị H và anh K xác nhận có 01 con chung là Nguyễn Bảo A, sinh ngày 15/10/2021. Sức khỏe con chung bình thường, hiện chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh K đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện chị làm nghề tự do, thu nhập khoảng 7.500.000 đồng/tháng. Anh K đang bị tạm giam, không có điều kiện trực tiếp nuôi con nên anh đồng ý giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh đề nghị được tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét, việc giao con chưa thành niên cho ai nuôi dưỡng khi ly hôn cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Hiện anh K đang bị tạm giam nên không có điều kiện về thời gian cũng như về kinh tế để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị H có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử giao con chung cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện anh K đang bị tạm giam nên không có điều kiện về kinh tế để cấp dưỡng nuôi con chung. Do vậy, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh K là phù hợp với quy định pháp luật.
Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
2.3. Về tài sản chung, nhà ở chung: Chị H, anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xét.
2.4. Về công nợ: Chị H, anh K xác nhận không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
2.5. Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.
Chị H, anh K có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1.1 phần II mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị H đối với anh Nguyễn Thế K. Chị H được ly hôn anh K.
- Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Thế K xác nhận có 01 con chung là Nguyễn Bảo A, sinh ngày 15/10/2021. Giao con chung cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh K kể từ thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nhà ở chung: Chị H, anh K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về công nợ: Chị H, anh K xác nhận không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005598 ngày 19/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Bùi Thị H, vắng mặt anh Nguyễn Thế K. Chị H có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Lan Anh |
Bản án số 174/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 174/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hien - Ky (Tu)
