|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 174/2023/HS-ST Ngày: 06 - 12 - 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Nhi và Ông Đỗ Văn Kha
-Thư ký phiên tòa: Ông Đào Hùng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Chẩu Thị Ngọc - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 143/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 20/TB-TA ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Ú), sinh năm 1988 tại Long An. Nơi đăng ký thường trú ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1950 và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1955; bị cáo có vợ là Lê Thị Thu T1, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “có mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị Thu T1, sinh năm 1992; nơi đăng ký thường trú đội 01, ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; chổ ở hiện nay khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “vắng mặt".
Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1970; cư trú tại địa chỉ khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”;
Bà Hà Thị Thu H, sinh năm 1986; cư trú tại địa chỉ khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 29/6/2023, Nguyễn Văn T nảy sinh ý định mua ma túy về cất giấu sử dụng, T đã điều khiển xe mô tô biển số 93P2- 766.05 đi từ nhà thuộc ấp S, xã T huyện Đ, tỉnh Bình Phước đến thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày khi đến khu vực tượng đài chiến thắng, thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, T gặp một người thanh niên tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) T hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá thì H1 đồng ý, tại đây T đưa cho H1 500.000 đồng và H1 đưa cho T 01 gói nylon hàn kín các mép bên trong chứa ma túy đá, giao ma túy và nhận tiền xong H1 bỏ đi. Lúc này T lấy đoạn băng keo màu xanh đen quấn bên ngoài gói ma túy rồi cất giấu vào phía dưới yên xe mô tô biển số 93P2- 766.05 rồi điều khiển xe đến quán cà phê “Chery” thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước do bà Hà Thị Thu H, sinh năm 1986 làm chủ để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày khi vừa đi đến sân vườn của quán cà phê thì bị lực lượng Công an thành phố Đ kiểm tra hành chính phát hiện T mang theo ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết giám định số 731/KLMT-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,5349 gam (Không phẩy năm ba bốn chín gam).
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã thu giữ 01 (một) gói nylon hàn kín bên ngoài có quấn đoạn băng keo màu xanh đen, kích thước (4,0 x 2,5)cm bên trong gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 93P2 - 766.05.
Ngày 16/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã quyết định xử lý vật chứng: Trả cho bà Lê Thị Thu T1 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 93P2 - 766.05.
Tại bản Cáo trạng số 171/CT-VKS ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và đang bị tạm giam nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì thư ký hiệu vụ số 731 ngày 30/6/2023 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng KTHS Công an tỉnh B niêm phong, đóng dấu giáp lai. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen;
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố là đúng hành vi phạm tội của bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận: Do bản thân là người nghiện ma túy và để có ma túy sử dụng nên vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/6/2023, Nguyễn Văn T đã đến khu vực tượng đài chiến thắng, thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước tìm gặp một người thanh niên tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. Đến 17 giờ 00 phút khi T đến quá cà phê “Cherry” thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ ma túy với khối lượng là 0,5349 gam Methamphetamine.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 29/6/2023, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,5349 gam Methamphetamine để sử dụng.
Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và an ninh trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh tại cộng đồng dân cư; xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước trong việc cất giữ, bảo quản và vận chuyển các chất ma túy.
Như vậy, hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt.
[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, đang bị tạm giam nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với người thanh niên tên H1 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho bị cáo T yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục xác minh, khi nào xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với bà Lê Thị Thu T1 khi cho bị cáo Nguyễn Văn T mượn xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 93P2 – 766, bà T1 không biết việc bị cáo T dùng làm phương tiện mua ma túy về tàng trữ sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là bà T1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Hà Thị Thu H là chủ quán cà phê “Cherry” khi T mang ma túy đến sử dụng bà H không biết việc T thực hiện hành vi phạm tội nên không đặt vấn đề xử lý.
[7] Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định gồm 01 bì thư ký hiệu vụ số 731 ngày 30/6/2023 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong, đóng dấu giáp lai.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen là tài sản cá nhân của bị cáo T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo;
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng pháp luật và hình phạt là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về điều luật và mức hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/6/2023.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng các Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì thư ký hiệu vụ số 731 ngày 30/6/2023 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong, đóng dấu giáp lai.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen đã cũ, không lên nguồn.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002162, quyển số 0044, ký hiệu D47/2017 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).
4. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thu T1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Ngọc Linh |
Bản án số 174/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 174/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm
