|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 174/2024/HS-ST Ngày: 06-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM,TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Út
Ông Trần Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 174/2024/QĐXXST-HS ngày 22/8/2024 đối với bị cáo:
Tài Thị Kim K, sinh năm 1985; tại Ninh Thuận.
Nơi thường trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Hồi giáo Bà N; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tài Đại C (đã chết) và bà Thị P, sinh năm 1952; có chồng tên Kiều Ngọc H; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P – T, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Kiều Ngọc H, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Người làm chứng: Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1965 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 08/6/2024 Tài Thị Kim K điều khiển xe mô tô hiệu Atila, biển số 49G1-216.49 chạy đến quán B đường Q thuộc khu phố B, phường P, thành phố P - T để ăn uống. Tại đây, K nhìn thấy bàn phía trước có chị Nguyễn Thị N1 và bạn đang ngồi ăn, bên cạnh có để 01 túi xách không khóa, bên trong có 01 ví da màu đen nên K nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc này, lợi dụng sơ hở, K dùng tay lấy trộm 01 ví da màu đen bên trong có số tiền 25.500.000 đồng; 01 chiếc nhẫn tròn vàng 18K, trọng lượng 4,3 phân; 01 chiếc nhẫn kim tiền vàng 18K, trọng lượng 3,6 phân và một số giấy tờ tùy thân của chị N1, cất giấu vào trong người rồi đi đến khách sạn N2 thuộc phường K để thuê phòng ở.
Sau khi xảy ra sự việc, chị N1 đã trình báo đến Cơ quan công an. Tại Cơ quan điều tra, Tài Thị Kim K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 52/KL-HĐĐGTS ngày 19/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP .-T, kết luận: 01 chiếc nhẫn tròn vàng 18K, trọng lượng 4,3 phân, trị giá 1.720.000 đồng; 01 chiếc nhẫn kim tiền vàng 18K, trọng lượng 3,6 phân, trị giá 1.440.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là: 3.160.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 28.660.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu.
Cáo trạng số 162/CT-VKSPRTC ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo Tài Thị Kim K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tài Thị Kim K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tài Thị Kim K từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù giam.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn và hối cải về hành vi của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P – T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai trong vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 08/6/2024, tại quán bánh xèo số B đường Q thuộc khu phố B, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận, Tài Thị Kim K đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 ví da màu đen của chị Nguyễn Thị N1, bên trong có số tiền 25.500.000 đồng và nhiều trang sức bằng vàng có tổng trị giá 3.160.000 đồng cùng một số giấy tờ tùy thân của chị N1. Tổng trị giá tài sản bị cáo K chiếm đoạt là 28.660.000 đồng. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo Tài Thị Kim K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương; do đó cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Tài Thị Kim K có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện sửa chữa, giao nộp toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và đã thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại cho bị hại chị Nguyễn Thị N1: 01 ví da màu đen; số tiền 25.500.000 đồng; 01 nhẫn tròn, vàng 18K, trọng lượng 4,3 phân; 01 chiếc nhẫn kim tiền, vàng 18K, trọn lượng 3,6 phân và một số giấy tờ tùy thân là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone; 01 ba lô màu đen; 02 ví da màu đen; 01 miếng kim loại màu vàng; 01 miếng nhựa; 01 thẻ ATM ngân hàng V mang tên Tài Thị Kim K; số tiền 1.950.000 đồng không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại cho Tài Thị Kim K là có căn cứ.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Atila, biển số 49G1-216.49 là tài sản của Tài Thị Kim K, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho Tài Thị Kim K.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị N1 đã nhận lại số tiền và vàng cùng toàn bộ giấy tờ do bị cáo giao nộp cho Cơ quan điều tra, không yêu cầu gì đối với các tài sản này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét chấp nhận.
- Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Tài Thị Kim K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Tài Thị Kim K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 09/6/2024).
- Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho Tài Thị Kim K 01 xe mô tô hiệu Atila, biển số 49G1-216.4 theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P – T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Tài Thị Kim K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 06/9/2024. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 174/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tài Thị Kim K phạm tội Trộm cắp tài sản
