Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 05/12/2023

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Yến.
  • 2. Bà Huỳnh Thị Tuyết Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 603/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 564/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi mở phiên tòa xét xử vụ án hôn nhân và gia đình số 1061/2023/TB-TA ngày 24/11/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành D, sinh năm 1991.
  2. Địa chỉ: tổ F, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn: Bà Dương Hồng H, sinh năm 1989.
  4. Địa chỉ: số C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

    (các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Thành D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân và gia đình: ông Nguyễn Thành D và bà Dương Hồng H tự nguyện quen biết nhau và tiến đến hôn nhân, hôn nhân lần thứ hai của cả hai. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang thể hiện theo giấy trích lục kết hôn (bản sao) số 1403/TLKH-BA, ngày 22/09/2023, kết hôn ngày 24/08/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc được một khoản thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải vả, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau và đã ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông D yêu cầu xin ly hôn với bà H. Bản thân bà H không đồng ý nhưng bản thân ông D kiên quyết ly hôn, không mong muốn đoàn tụ gia đình theo ý kiến trình bày của bà H.

Về quan hệ con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành D, bị đơn bà Dương Hồng H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Bà H xác định ông D và bà H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, là vợ chồng hợp pháp, thời gian gần đây ông D tự ý bỏ nhà đi nơi khác sinh sống nên đã ly thân. Hiện nay, bản thân và H còn yêu thương ông D, mong muốn đoàn tụ gia đình nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông D.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án cho ông được ly hôn với bà H, về con chung không có, về tài sản chung và nợ chung không có. Bà H yêu cầu đoàn tụ gia đình, thống nhất với ông D về con chung, tài sản chung và nợ chung không có.

Tại phần tranh luận: Nguyên đơn ông D yêu cầu ly hôn với bà H, về tài sản chung, con chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn bà H yêu cầu đoàn tụ gia đình, về con chung, tài sản chung và nợ chung không có.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên:

Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của đương sự tại phiên tòa.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Ông D và bà Huỳnh c sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/08/2018 tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Thời gian gần đây vợ chồng sống ly thân, ông D đã bỏ đi không quan tâm chăm sóc gia đình, bà H nhiều lần yêu cầu ông D về sống chung nhưng ông D không đồng ý, ông D kiên quyết được ly hôn.

Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà thường xuyên cải vả, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân, ông D không muốn hàn gắn, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông D yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông D.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành D. Ông Nguyễn Thành D được ly hôn với bà Dương Hồng Huỳnh . Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí: nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông D và bà H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; ông D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà H; bà Huỳnh h đang cư trú tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa Ông D và bà H là “tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho ông Nguyễn Thành D và bà Dương Hồng Huỳnh . Tại phiên tòa, Ông D và bà H có mặt. Do đó, áp dụng Điều 227 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp quy định của pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Thành D và bà Dương Hồng H tự quen biết, tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy trích lục kết hôn số 1403/TLKH-BA, ngày 22/09/2023, đăng ký kết hôn ngày 24/08/2018, được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Nay, ông D và bà Huỳnh phát s mâu thuẫn, ông D xin ly hôn nên Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2023 phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân do thường xuyên cải vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Trong thời gian sống chung ông D luôn tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, bà H yêu cầu đoàn tụ gia đình nhưng ông D không đồng ý, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên ông D yêu cầu được ly hôn với bà H.

[5] Xét, hôn nhân giữa ông D và bà H mâu thuẫn phát sinh ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Theo ông D xác định không còn tình cảm với bà H. Tuy nhiên, bà H còn yêu thương ông D, yêu cầu đoàn tụ gia đình vì không mong muốn gia đình tan vỡ nhưng ông D không đồng ý, kiên quyết ly hôn. Nhận thấy, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023. Tại phiên tòa hôm nay, Ông D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nên không có căn cứ xét yêu cầu của bà H. Do đó, căn cứ vào Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của ông D được ly hôn với bà H.

[6] Về quan hệ con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Ông D và bà H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông D nộp tiền án phí theo quy định pháp luật. Bà H không nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Điều 9, 19, 51, khoản 1 Điều 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 179; Điều 227, Điều 233, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Về quan hệ Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành D được ly hôn với bà Dương Hồng Huỳnh .

Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Thành D và bà Dương Hồng H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Thành D và bà Dương Hồng H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Thành D nộp 300.000₫, trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002434, ngày 10/10/2023 Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà Dương Hồng H không nộp án phí.

Ông Nguyễn Thành D và bà Dương Hồng H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án)

Nơi nhận:

  • -Các đương sự;
  • -VKSND-TPLX;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2023/HNGĐ-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 174/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger