Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM BÌNH

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 03/11/2023

V/v Ly hôn, T/c nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Út

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mua

Bà Nguyễn Thị Sương

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trăm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 03 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 352/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 161/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm: 1976 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
  • Địa chỉ liên lạc: Ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1973 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 12/7/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Bé H trình bày: Bà và ông K vợ chồng kết hôn vào năm 2011, hôn nhân do quen biết, tự nguyện không bị ép buộc, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 21/11/2011. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được 01 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2012 và chính thức ly thân từ năm 2022 đến nay không về đoàn tụ được.

Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do ông K không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện cự cãi và nhiều lần có hành vi bạo lực gia đình đánh bà và con, bà có khuyên ngăn nhưng ông K không thay đổi. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng dành cho ông K không còn nữa nay bà yêu cầu:

  • + Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông K
  • + Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 29/02/2012. Hiện nay đang sống với bà tại ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung Nguyễn Tuấn Kha, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra không có yêu cầu khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không có yêu cầu khác.

- Ông Nguyễn Văn K (Vắng mặt): Do ông K vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được ý kiến và tài liệu chứng cứ của ông K

- Cháu Nguyễn Tuấn K1 trình bày: Khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được sống với mẹ là Nguyễn Thị Bé H

- Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Bé H và ông Nguyễn Văn K vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự. Kết luận, quan hệ tranh chấp về “ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Bé H là nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần 2. Ngày 29/9/2023 bà H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Hai

Ông Nguyễn Văn K là bị đơn đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K

[3] Về hôn nhân: Qua quen biết bà H và ông K tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 21/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà H trình bày từ khi cưới ông bà sống hạnh phúc với nhau được 01 năm thì năm 2012 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nhưng đến năm 2022 chính thức ly thân với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà H là do ông K không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu, thường mâu thuẫn với bà, đồng thời ông K còn nhiều lần có hành vi bạo lực gia đình, bà có khuyên ngăn nhưng ông K không thay đổi. Mặc khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông K để làm rõ yêu cầu ly hôn của bà H nhưng ông K vắng mặt không rõ lý do nên không thể thu thập được ý kiến của ông K

Nay bà H xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông K, bà H kiên quyết ly hôn với ông K. Cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông K

[4] Về con chung: Bà H trình bày vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 29/02/2012, hiện nay con chung đang sống với bà H.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông K để làm rõ yêu cầu nuôi con của bà H nhưng ông K vắng mặt không rõ lý do nên không thể thu thập được ý kiến của ông K về con chung và cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 12/7/2023 cháu K1 có nguyện vọng là sau khi cha mẹ ly hôn cháu được tiếp tục sống với mẹ là bà H. Đồng thời, từ khi bà H và ông K ly thân đến nay cháu K1 đều do bà H chăm sóc nuôi dưỡng đã ổn định về cuộc sống. Để đảm bảo ổn định cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như tâm sinh lý cho cháu K1 căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà H, giao con chung tên Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 12/7/2023 cho bà H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bà Nguyễn Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé H

  1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bé H được ly hôn với ông Nguyễn Văn K
  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 29/02/2012 cho bà Nguyễn Thị Bé H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Tuấn K1 không yêu cầu ông Nguyễn Văn K cấp dưỡng nuôi con nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Ông Nguyễn Văn K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bé H không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Bé H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011653, ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Bà Nguyễn Thị Bé H đã nộp xong.
  3. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long: 01b;
  • - VKSND huyện Tam Bình: 02b
  • - Chi cục THADS huyện Tam Bình: 01b;
  • - UBND xã nơi thực hiện ĐKKH: 01b;
  • - Đương sự: 02b;
  • - Lưu: 04b.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2023/HNGĐ-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 174/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bé Hai, Nguyễn Văn Khương, ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger