TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 1 – KHÁNH HÒA | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 174/2025/HS-ST
Ngày: 28/10/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lý
- Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà – Cán bộ Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thiệt - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 122/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN VĂN Đ (giới tính: Nam) – sinh ngày: 20/11/1993 tại tỉnh Khánh Hòa. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn P, phường N, Khánh Hòa; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn Văn T – sinh năm: 1966 và bà Trần Thị Thu H – sinh năm: 1967, có vợ là Huỳnh Thị T1 – sinh năm: 1992 và 02 con: con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 62/QĐ-XPHC ngày 24/10/2023 của Công an huyện C, tỉnh Khánh Hòa đối với Nguyễn Văn Đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị can chưa nộp tiền phạt vi pham hành chính.
Tiền án: không
Nhân thân: Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 06/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam Khu vực N.
2. MAI TẤN CÔNG (giới tính: Nam) – sinh ngày: 10/7/1998 tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn P, phường N, Khánh Hòa; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Mai Xuân T2 – sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị T3 – sinh năm: 1967.
Tiền sự: không;
Tiền án: không;
Nhân thân: Bản án số 269/2021/HSST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt bị cáo Mai Tấn C 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án ngày 16/9/2022;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam Khu vực N.
Bị hại: Nguyễn Thị Ngọc K – sinh ngày: 14/8/2007 – Địa chỉ: B đường số C, KĐT P, phường N, Khánh Hòa. Người giám hộ của Nguyễn Thị Ngọc K là bà Phạm Thị H1 (mẹ ruột). Vắng mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Lưu Xuân G - sinh năm: 1982; Địa chỉ: D L, phường N, Khánh Hòa. Có mặt
- Nguyễn Minh V – sinh năm: 1982; Địa chỉ: F H, phường N, Khánh Hòa. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 12/02/2025, Mai Tấn C điều khiển xe mô tô dạng Honda Wave RSXFI, gắn biển kiểm soát 79N2-634.53 chở Nguyễn Văn Đ đi trên các tuyến đường thuộc phường P, thành phố N (nay là phường N), tỉnh Khánh Hòa để tìm người có tài sản sơ sở thì chiếm đoạt. Khi đi đến trước nhà số C đường L, phường P, thành phố N, (nay là phường N), tỉnh Khánh Hòa, Đ phát hiện chị Nguyễn Thị Ngọc K - sinh ngày 14/8/2007, đang đứng sát lề đường, mặt hướng ra đường, trên tay trái cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16 Pro max, màu titan, dung lượng 512GB nên Đ chỉ vào chị K và nói với C “quay xe lại để giật” thì C đồng ý. C liền điều khiển xe mô tô áp sát chị K từ bên phải để cho Đ dùng tay phải giật điện thoại Iphone 16 Pro max mà chị K đang cầm trên tay, rồi C tăng ga điều khiển xe máy bỏ chạy theo đường V về nhà Đ ở thôn P, xã P, thành phố N (nay là phường N), tỉnh Khánh Hòa để lẩn trốn. Tại đây, Đ đưa điện thoại vừa cướp giật được của chị K cho Lưu Xuân G nhờ mang đi bán tại cửa hàng "T AN mobile”, có địa chỉ ô 29, lô A, đường H, xã P, thành N (nay là phường N), tỉnh Khánh Hòa với giá 800.000 đồng. Sau khi bị cướp giật, chị K đã đến Công an phường P, thành phố N trình báo sự việc.
Làm việc tại Cơ quan Công an, Mai Tấn C và Nguyễn Văn Đ đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS ngày 18/02/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố N kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 16 Pro max, dung lượng 512GB có giá trị 38.798.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKSKV1 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Mai Tấn C tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp 06 tháng tù của bản án số 49/2025/HS-ST ngày 06/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Tấn C từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe máy 01 xe máy hiệu Honda Wave RSXFI, số khung RLHJA3845PY202726 và 01 biển kiểm soát 79N3 – 232.92. Quá trình điều tra xác định đó là tài sản bị trộm cắp trong một vụ án khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K quyết định tách hành vi để giải quyết trong một vụ án khác.
Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy tại phiên tòa, việc vắng mặt của hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Khánh Hòa truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Mai Tấn C phạm tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét về tính chất, vai trò của vụ án, đây là hành vi cướp giật tài sản có đồng phạm đơn giản, tuy bị cáo Mai Tấn C là người khởi xướng và rủ bị cáo Nguyễn Văn Đ nhưng bị cáo Đ là người giúp sức tích cực và trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật
tài sản. Sau khi cướp giật được điện thoại của bị hại, bị cáo Đ nhờ đối tượng khác đi bán dùm và được 800.000 đồng bị cáo tự tiêu xài hết. Các bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng không sử dụng sức lao động của mình để làm việc chân chính nuôi sống bản thân mà lại cướp giật tài sản của người khác. Điều này thể hiện các bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo Đ có 01 tiền sự và nhân thân xấu nên mức hình phạt của bị cáo Đ sẽ nghiêm khắc hơn bị cáo C.
Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để các bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
[5] Về vật chứng vụ án: Đối với xe máy 01 xe máy hiệu Honda Wave RSXFI, số khung RLHJA3845PY202726 và 01 biển kiểm soát 79N3 – 232.92. Quá trình điều tra xác định đó là tài sản bị trộm cắp trong một vụ án khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K quyết định tách hành vi để giải quyết trong một vụ án khác.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Mai Tấn C phạm tội “Cướp giật tài sản".
Áp dụng khoản điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 03 năm 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số 49/2025/HS-ST ngày 06/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Như vậy bị báo Đ1 phải thi hành hình phạt 04 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/02/2025.
Áp dụng khoản điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Tấn C 03 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Xử lý vật chứng vụ án: Đối với xe máy 01 xe máy hiệu Honda Wave RSXFI, số khung RLHJA3845PY202726 và 01 biển kiểm soát 79N3 – 232.92. Quá trình điều tra xác định đó là tài sản bị trộm cắp trong một vụ án khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K quyết định tách hành vi để giải quyết trong một vụ án khác.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Mai Tấn C, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Vũ L |
Bản án số 174/2025/HS-ST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – KHÁNH HÒA về cướp giật tài sản
- Số bản án: 174/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hs
