|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 174/2025/HS-PT Ngày: 20-3-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn An
Ông Nguyễn Văn Khương
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử trực tuyến phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1155/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Phúc X, do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Phúc X đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Phúc X sinh năm 1993, tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: khu phố E, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Phúc X1 và bà Huỳnh Thị Cẩm H (chết tháng 9/2024); bị cáo có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/12/2023 cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Phúc X: Luật sư Võ Tuấn A -Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Trần Hữu C và Huỳnh Phúc X là hàng xóm quen biết với nhau từ nhiều năm nay. Ông C và bà Nguyễn Thị N (mẹ ruột C) kinh doanh dịch vụ cho thuê xe tự lái tại khu phố E, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương.
Do cần tiền để trả nợ và tiêu xài nên vào ngày 29/6/2021 và ngày 01/7/2021, X đã đưa ra thông tin gian dối về việc X cần thuê xe ô tô để đưa gia đình đi du lịch để ông C tin tưởng và cho X thuê 02 xe ô tô hiệu Mazda 3 biển số 61A- 874.35 và 61A-874.96 (cả 2 xe ô tô do bà Nguyễn Thị N đứng tên chủ sở hữu). Sau khi thuê được 02 xe ô tô trên, X bán hai xe ô tô cho ông Nguyễn Hữu T, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 29/6/2021, X đến gặp ông C hỏi thuê xe ô tô để đi du lịch trong thời hạn 01 tuần, ông C đồng ý và lập hợp đồng cho thuê xe ô tô hiệu Mazda 3, biển số 61A- 874.35 với giá 900.000 đồng/ngày. Sau đó, ông C giao xe và giấy chứng nhận đăng ký xe bản photo (do bản chính đang thế chấp tại Ngân hàng T2 nhưng năm 2023 đã xóa thế chấp) cho X giữ. Sau khi nhận được xe, X điều khiển đến gặp ông Nguyễn Hữu T tại xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương thỏa thuận bán xe ô tô trên cho ông T với giá 550.000.000 đồng. Xinh nói dối với ông T rằng bà Nguyễn Thị N là mẹ ruột của X, X nhờ bà N đứng tên vay Ngân hàng để mua xe nên chỉ được giao lại bản sao y Giấy chứng nhận đăng ký xe nên ông T tin tưởng và đồng ý mua. Cả hai thỏa thuận ông T đặt cọc 250.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ được thanh toán sau khi công chứng Hợp đồng mua bán. Lúc này, ông T nhờ bà Vương Thu M (bạn gái T) đứng ra ký giấy mua bán với X. Xinh viết giấy mua bán xe giữa người mua là bà M, người bán là X với giá 250.000.000 đồng, sau đó ông T giao 250.000.000 đồng cho X và X giao xe ô tô 61A- 874.35 cho T sử dụng.
Lần thứ hai: Ngày 01/7/2021, X tiếp tục đến gặp ông C hỏi thuê một chiếc xe ô tô để đi du lịch cùng gia đình. Ông C đồng ý cho X thuê thêm 01 xe ô tô hiệu Mazda 3, biển số 61A-874.96, thời gian thuê 01 tuần, giá thuê xe là 900.000 đồng/ngày, việc cho thuê xe được lập thành Hợp đồng cho thuê xe ô tô tự lái số 010 đề ngày 01/7/2021. Sau đó, ông C giao xe ô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe bản photo (do bản chính đang thế chấp tại Ngân hàng T2 nhưng năm 2023 đã xóa thế chấp) cho X giữ. Sau khi có được xe ô tô 61A-874.96, X tiếp tục liên hệ với ông T để bán với giá 550.000.000 đồng. Ông T đặt cọc cho X trước 250.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ được thanh toán sau khi công chứng Hợp đồng mua bán. Sau khi nhận đủ 250.000.000 đồng, X giao xe ô tô 61A-874.96 cho ông T sử dụng (việc mua bán không lập hợp đồng).
Khi hết thời hạn thuê đối với 02 xe ô tô trên, ông C nhiều lần liên hệ và tìm đến nhà nhưng không liên lạc được với X nên đến tháng 10/2021, ông C tìm theo định vị của 02 xe ô tô thì được biết xe đang ở trên địa bàn huyện P, tỉnh Bình Dương nên tìm đến địa chỉ theo định vị thì gặp ông T. Tại đây, ông T kể lại việc ông T đã đặt cọc 500.000.000 đồng cho X để mua 02 xe ô tô 61A-874.35 và 61A-874.96. Do muốn nhận lại xe của mình nên ông C thỏa thuận trả cho ông T 500.000.000 đồng để chuộc lại 02 xe ô tô trên, ông T đồng ý.
Trong đó: ông C liên hệ được với X nên yêu cầu X trả lại 824.000.000 đồng, trong đó gồm: 500.000.000 đồng ông C chuộc xe và 324.000.000 đồng là tiền thuê xe trong thời hạn 06 tháng. Do X không có tiền để trả nên X sử dụng thông tin của thửa đất số 560, tờ bản đồ số 22, diện tích 551,2m2 trên địa bàn xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương trên máy photo và sử dụng máy tính sửa thông tin của chủ sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành tên Huỳnh Phúc X, rồi Xinh chụp gửi hình ảnh qua cho ông C. Xinh nói đây là tài sản của X và sẽ chuyển nhượng lại cho ông C để cấn trừ khoản nợ trên, ông C đồng ý. Ngày 10/10/2021, X và ông C ký hợp đồng đặt cọc có nội dung ông C đặt cọc cho X để nhận chuyển nhượng thửa đất số 560 tờ bản đồ số 22 tại xã T với giá 1.200.000.000 đồng, ông C đặt cọc trước cho Xinh 900.000.000 đồng (nhưng chưa giao tiền), số tiền còn lại thanh toán khi ký hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc, X không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C, cũng không thực hiện việc chuyển nhượng nên ông C nhờ người kiểm tra thông tin thửa đất số 560, phát hiện ông Lưu Thanh T1, sinh năm 1997, nơi cư trú: tổ A, ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương đứng tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSD) số DA736331 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B cấp ngày 14/6/2021 nên ông C gửi đơn tố giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.
Tại Kết luận giám định số 210/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B xác định: Hai dấu vân tay tên “Huỳnh Phúc X” có tại mục “Bên A” trên Giấy bán xe ngày 29/6/2021; mục “Bên B” trên hai Hợp đồng thuê xe ô tô tự lái ngày 29/6/2021 và 01/7/2021; mục “Bên B” trên Giấy đặt cọc ngày 10/10/2021 so với dấu vân tay thu được của Huỳnh Phúc X là do cùng một người lăn tay ra.
Tại Kết luận định giá tài sản số 307/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Dương xác định trị giá xe ô tô biển số 61A-874.35 là 575.000.000 đồng và 61A-874.96 là 575.000.000 đồng. Tổng trị giá 02 xe ô tô tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.150.000.000 đồng.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Hữu C yêu cầu bị can Huỳnh Phúc X bồi thường 500.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2024/HS-ST ngày 28/10/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Phúc X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Phúc X 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Huỳnh Phúc X có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Hữu C số tiền 460.000.000 (bốn trăm sáu mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 12/11/2024, bị cáo Huỳnh Phúc X kháng cáo đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm vì những lý do sau:
- Bị cáo không được giao nhận Bản kết luận điều tra và Cáo trạng.
- Bị cáo thừa nhận có thuê xe BKS 61A-874.96 vào ngày 01/7/2021, nhưng chỉ sử dụng 02 ngày, đã trả xe ngày 03/7/2021 và trả tiền thuê xe đầy đủ. Do đó, X không bán chiếc xe này, không nhận cọc 250.000.000 đồng cho ông Nguyễn Hữu T.
- Không có căn cứ chứng minh ông Trần Hữu C trả cho ông Nguyễn Hữu T 500.000.000 đồng, để chuộc lại hai xe ô tô.
- Số tiền thuê xe 324.000.000 đồng là không chính xác.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Huỳnh Phúc X vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án:
Có căn cứ kết luận ngày 29/6/2021 và ngày 01/7/2021, X thuê hai chiếc xe ô tô biển số 61A-874.35 và 61A-874.96 của ông Trần Hữu C, sau đó bị cáo bán hai chiếc xe ô tô này cho ông T với giá 550.000.000 đồng/xe, nhận cọc 250.000.000 đồng/xe.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới, do đó, kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Phúc X, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Tội danh và hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo tranh luận: Bị cáo không bán xe ô tô BKS 61A-874.96 cho ông T. Số tiền thuê xe bị cáo đã trả được mấy chục triệu vào tài khoản ngân hàng S của bị hại.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại việc thuê chiếc xe ô tô BKS 61A-874.96 cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Bị hại Trần Hữu C có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa các cấp, xác nhận đã nhận 40.000.000 đồng do gia đình bị cáo bồi thường thay cho bị cáo, đồng thời xin giảm hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vắng mặt bị hại C.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Phúc X.
[2.1]. Về tội danh và hình phạt đối với bị cáo:
[2.1.1]. Về tội danh:
Bị cáo chỉ thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 29/6/2021 đối với xe ô tô hiệu Mazda 3, biển số 61A- 874.35; tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Biên bản đối chất ngày 17/5/2024 (bút lục 235 đến 237) thể hiện: tại Biên bản hỏi cung ngày 21/12/2023, X khai Xinh thuê 02 xe ô tô của ông C, sau đó mang đi cầm cố (BL số 203). Tại Biên bản đối chất giữa X và ông C, X khai: do mắc nợ nhiều người, nên nảy sinh ý định bán hoặc cầm cố hai xe ô tô để lấy tiền trả nợ. Toàn bộ sự việc này là do X tự ý thực hiện, ông C không biết việc X cầm cố hai xe ô tô nêu trên cho ông T (BL số 258). X khai có ký hợp đồng mua bán xe ô tô BKS 61A-874.96 cho ông T (BL số 287). Tại Biên bản đối chất giữa Xinh với ông T (BL số 235) và Biên bản ghi lời khai của ông T (BL số 211, 214, 218) thể hiện Xinh bán cho ông T hai chiếc xe ô tô màu trắng. Ngoài ra, X khai X không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh việc C giới thiệu cho X đến cầm cố hai chiếc xe ô tô cho T và Thiều, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc C “ép buộc”, “gài” Xinh phải ký vào giấy đặt cọc ngày 10/10/2021 mà không cho X đọc.
Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận: vào các ngày 29/6/2021 và ngày 01/7/2021, để có tiền trả nợ và tiêu xài nên Huỳnh Phúc X nảy sinh ý định chiếm đoạt xe ô tô của ông Trần Hữu C. Huỳnh Phúc X cung cấp thông tin gian dối để ông C tin tưởng cho bị cáo X thuê 02 xe ô tô hiệu Mazda 3 biển số 61A-874.35 và 61A-874.96 thông qua việc thuê xe ô tô tự lái. Sau khi nhận được xe ô tô từ ông C, X liên hệ với ông Nguyễn Hữu T để bán với giá 550.000.000 đồng/xe, X đã nhận cọc của ông T tổng cộng 500.000.000 đồng. Sau đó, ông C đến gặp ông T thương lượng nhận lại 02 xe ô tô, ông C trả cho ông T 500.000.000 đồng, là có căn cứ.
Tại Kết luận định giá tài sản số 307/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Dương xác định trị giá xe ô tô biển số 61A-874.35 là 575.000.000 đồng và 61A-874.96 là 575.000.000 đồng. Tổng trị giá 02 xe ô tô tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.150.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Huỳnh Phúc X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung là “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2.1.2]. Về hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nhưng còn hạn chế; bị cáo không ăn năn, hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần thiệt hại (40.000.000 đồng) cho bị hại nhưng không đáng kể. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đã xem xét cho bị cáo. Bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo là đúng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất nguy hiểm và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Phúc X 12 năm tù, bằng mức khởi điểm của khung hình phạt là đúng pháp luật, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết nào mới, làm căn cứ giảm hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo.
[2.2]. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng; do đó Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo Huỳnh Phúc X tiếp tục có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Hữu C số tiền 460.000.000 (bốn trăm sáu mươi triệu) đồng.
[2.3]. Bị hại không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền thuê xe 324.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm cũng không buộc bị cáo phải trả bị hại số tiền thuê xe 324.000.000 đồng. Do đó, kháng cáo của bị cáo không đồng ý số tiền thuê xe 324.000.000 đồng không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm.
[2.4]. Tại Biên bản giao nhận kết luận điều tra và Biên bản giao nhận cáo trạng (BL số 243, 266) thể hiện bị cáo Huỳnh Phúc X đã được giao nhận Bản kết luận điều tra và Cáo trạng. Do đó, kháng cáo của bị cáo cho rằng bị cáo không được nhận Bản kết luận điều tra và Cáo trạng là không có căn cứ.
[3]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa: được chấp nhận.
[4]. Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Phúc X: được chấp nhận.
[5]. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Về án phí phúc thẩm hình sự:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Huỳnh Phúc X phải chịu án phí phúc thẩm hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm a Khoản 1, Khoản 2 Điều 355; Điều 356 và Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Phúc X.
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Phúc X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Huỳnh Phúc X 12 (mười hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2023.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Huỳnh Phúc X có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Hữu C số tiền 460.000.000 (bốn trăm sáu mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hòa |
Bản án số 174/2025/HS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 174/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Phúc X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
