|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 174/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12/6/2025 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng.
Ông Nguyễn Tiến Bộ.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2025/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: Chị Đinh Thị C, sinh ngày 07/3/1995.
Số căn cước công dân: [...].
Nơi đăng ký thường trú: Đội 3, thôn L, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
Chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.
-
* Bị đơn: Anh Đặng Văn H, sinh ngày 16/8/1995.
Số căn cước công dân: [...].
Nơi đăng ký thường trú: Đội 3, thôn L, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
(Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Đinh Thị C trình bày:
-
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và và anh Đặng Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 28/9/2017 tại UBND xã H. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn trầm trọng bắt đầu từ cuối năm 2024, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm, lối sống, anh H ham chơi, không tu chí làm ăn, rượu chè dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn anh H còn đánh đập chị. Chị đã tìm nhiều biện pháp để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2024 đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai, chị đã chuyển về ở nhà bố mẹ đẻ tại thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội. Nay
chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án sớm giải quyết cho chị được ly hôn anh Đặng Văn H.
-
- Về con chung: Chị trình bày không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/4/2025, bà Đặng Thị T, sinh năm 1959 (là mẹ đẻ của anh Đặng Văn H) trình bày: Chị Nguyễn Thị C1 và anh Đặng Văn H kết hôn năm 2017, sau khi kết hôn vợ chồng anh H, chị C1 về ở với gia đình bà. Anh H và chị C1 chung sống hạnh phúc đến tháng 9/2024 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng trong làm ăn kinh tế gia đình, vợ chồng không có lòng tin với nhau. Gia đình đã khuyên bảo, động viên anh chị để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân, chị C1 đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội. Nay chị C1 xin ly hôn thì anh H đã biết nhưng do công việc bận nên anh H không đến Tòa án giải quyết việc ly hôn được, anh H có quan điểm đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị C1 vì anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn. Anh H và chị C1 không có con chung; về tài sản chung và nợ chung thì bà T không nắm bắt được.
Tại Biên bản xác minh ngày 29/4/2025, tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, thành phố Hà Nội thể hiện: Chị Đinh Thị C và anh Đặng Văn H có đăng ký kết hôn số 65/2017, ngày 28/9/2017 tại UBND xã H. Hiện nay đời sống chung vợ chồng giữa chị C và anh H xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không hòa thuận, mục đích hôn nhân không đạt được. Địa phương đã nhiều lần khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân, chị C không còn sinh sống cùng anh H tại địa phương. Chị C và anh H không có con chung. Quan điểm của địa phương: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Đinh Thị C có mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn anh Đặng Văn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
-
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôn nay, bị đơn mặc dù được Tòa án giao các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014:
-
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị C, xử cho chị Đinh Thị C được ly hôn anh Đặng Văn H.
-
- Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
-
2
-
- Tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
-
- Về án phí: Chị Đinh Thị C phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Đinh Thị C khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Đặng Văn H nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Đặng Văn H có đăng ký thường trú tại: Đội 3, thôn L, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
Về nội dung:
-
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đinh Thị C và anh Đặng Văn H được xây dựng trên cơ sở tìm hiểm tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M vào ngày 28/9/2017 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc và đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, thông qua mẹ đẻ của anh H là bà Đặng Thị T thì xác định anh H có quan điểm đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị C. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh H đã bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị C và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
-
Về con chung:
Không có nên không xem xét.
-
Về tài sản chung và nợ chung:
Các đương sự không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về án phí:
Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
-
Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
3
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 65/2017, ngày 28/9/2017 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, thành phố Hà Nội;
Xử:
-
Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Đinh Thị C đối với anh Đặng Văn H.
Xử chị Đinh Thị C được ly hôn anh Đặng Văn H.
-
Về con chung:
Không có.
-
Về tài sản chung và nợ chung:
Không xem xét giải quyết.
-
Về án phí:
Chị Đinh Thị C phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0077062 ngày 26/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
-
Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn chị Đinh Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn anh Đặng Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Cường |
4
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
5
Bản án số 174/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 174/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
