|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 174/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10/6/2025 V/v “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân.
1.Ông Trần Anh Dũng;
2. Ông Lê Minh Chiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Dân- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Liêm - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2025/TLST-HNGĐ ngày17 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 879/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1104/2025/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị Q, sinh năm: 1988( có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Bị đơn: Anh Lê ngọc H, sinh năm: 1985. (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn D, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 01 năm 2025 và các văn bản tố tụng khác nguyên đơn chị Hà Thị Q trình bày: Chị và anh Lê Ngọc H tổ chức cưới hỏi vào cuối năm 2019, trước khi cưới anh chị có thời gian tìm hiểu khoảng vài tháng, cả hai tự nguyện đi đến hôn nhân có Giấy đăng ký kết hôn do UBND xã N cấp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung nhà với cha mẹ chồng, Cuộc sống hôn nhân vợ chồng không có hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh H không quan tâm đến vợ con, làm có tiền tự chi tiêu riêng, anh thường chửi mắng xúc phạm đến chị. Anh nghi ngờ chị làm có tiền đem về cho cha mẹ của chị. Mỗi lần vợ chồng kình cãi là chị buồn bực bỏ về nhà cha mẹ chị ở. Gia đình hai bên có hòa giải nhưng cả hai không ai nhường nhịn ai. Từ tháng 6/2024 cho đến nay chị và anh H không còn chung sống với nhau nữa. Suốt thời gian qua anh không hề liên lạc quan tâm con cái, mạnh ai nấy sống, anh không hề chi phí bất cứ khoản tiền nào nuôi con. Gia đình hai bên cũng có hòa giải nhưng vợ chồng cũng không hàn gắn được. Hiện chị không còn tình cảm với anh H. Nay chị yêu cầu cho chị ly hôn với anh Lê Ngọc H.
Vợ chồng có một người con chung tên Lê Nam T, sinh ngày 29/10/2023, hiện cháu T đang ở với chị, chị làm công nhân may, thu nhập bình quân 8.000.000đ/tháng. Chị yêu cầu tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 1.800.000đ/tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Lê Ngọc H vắng mặt nên không có lời trình bày. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh H biết nhưng anh không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của chị Q. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt. Do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến nay, tất cả các hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng và việc tuân thủ pháp luật của các đương sự, đều theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Thị Q ly hôn với anh Lê Ngọc H.
Về con chung: Giao cháu tên Lê Nam T, sinh ngày 29/10/2023 cho chị Q tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Buộc anh H cấp dưỡng nuôi con 1.800.000đ/tháng .
Về tài sản chung và nợ chị Q không yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí: Các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Hà Thị Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Ngọc H được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Bị đơn anh Lê Ngọc H đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh vẫn không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và tài liệu, chứng cứ thu thập được để giải quyết vụ án.
[3] Chị Hà Thị Q và anh Lê Ngọc H tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại UBND xã N theo giấy chứng nhận kết hôn số 68 ngày 08/8/2023 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, anh chị chỉ sống chung thời gian ngắn đã xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng đã không còn sống chung từ tháng 6/2024 cho đến nay. Anh H biết chị Q yêu cầu ly hôn nhưng anh vẫn không tham gia tố tụng tại Tòa án. Qua xác minh những người thân trong gia đình của anh thì cha mẹ của anh cùng xác định, anh H đã nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập của Tòa án nhưng anh không đến Tòa. Gia đình hòa giải nhưng chị Q không quay về chung sống. Anh H cũng tâm sự với cha mẹ anh, anh không còn tình cảm với vợ nữ và thực tế khi con chưa đủ 12 tháng anh H cũng đã đến Tòa án làm đơn ly hôn. Qua viện dẫn và phân tích ở trên, xác định quan hệ hôn nhân giữa anh chị không có tình nghĩa vợ chồng, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, không còn chung sống với nhau. Anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q cho chị Hà Thị Q ly hôn với anh Lê Ngọc H.
[4] Xét về yêu cầu nuôi con: Vợ chồng có một người con chung tên Lê Nam T, sinh ngày 29/10/2023, chị Q yêu cầu tiếp tục nuôi con chung sau ly hôn. Cháu T hiện còn quá nhỏ, mọi sinh hoạt hàng ngày của cháu rất cần sự chăm sóc của người mẹ, còn anh H không tham gia tố tụng vụ án, không có lời trình bày tại hồ sơ. Qua phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T cho chị Q nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện .... hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp lợi ích của con”.
[5] Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, anh H không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chị Q yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.800.000đ. Qua xem xét mức chi phí sinh hoạt của trẻ em hiện nay thì mức cấp dưỡng để anh H cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng 1.800.000đ. là phù hợp quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Q. Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 6/2025 còn về phương thức cấp dưỡng và thời điểm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng căn cứ theo Điều 117 và 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
[6] Về tài sản chung và nợ : Chị Hà Thị Q không yêu cầu nên miễn xét.
[7] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Hà Thị Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Anh Lê Ngọc H chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ.
[8] Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 96, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 238 Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 110, 116 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5,6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Hà Thị Q ly hôn với anh Lê Ngọc H.
- Về con chung: Giao người con chung tên Lê Nam T, sinh ngày 29/10/2023 cho chị Hà Thị Q tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến tuổi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Buộc anh Lê Ngọc H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng), thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 6/2025 đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc về mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ: Chị Hà Thị Q không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
- Về án phí: Buộc chị Hà Thị Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005816 ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn. Buộc anh Lê Ngọc H phải chịu 300.000đ án phí về cấp dưỡng nuôi con.
- Quyền kháng cáo: Chị Hà Thị Q và anh Lê Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Huỳnh Thị Kiều Oanh |
Bản án số 174/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 174/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Hà Thị Quý và Lê Ngọc Huân
