|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 174/2025/DS-ST Ngày 18-6-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh;
Ông Đặng Minh Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 357/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 114/2025/QĐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ trụ sở: Số B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Số D, đường C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Anh Mai Thành N - Chuyên viên khách hàng cá nhân - Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B - PGD Thủ Dầu M; là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 18/3/2025); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm 1981; cư trú tại: Số D, Tổ A, Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S do anh Mai Thành N làm đại diện hợp pháp trình bày:
Căn cứ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 30/8/2023 ký giữa Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B - Phòng G và chị Trần Thị Thanh T; theo đó ngày 30/8/2023MERGEFIELD chị Trần Thị Thanh T1 được cấp hạn mức thẻ tín dụng với số tiền là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng)mục đích tiêu dùng; lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 29,8%/năm. Khoản vay không có tài sản đảm bảo.
Đến ngày 05/02/2024 chị Trần Thị Thanh T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, theo nội dung đã thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 30/8/2023 nêu trên, toàn bộ khoản vay đều đã chuyển nợ quá hạn.
Ngân Hàng TMCP S đã nhiều lần trao đổi, làm việc và tạo mọi điều kiện để chị Trần Thị Thanh T3 tiền thanh toán vốn vay, các khoản lãi phát sinh tại Ngân hàng TMCP S. Nhưng đến thời điểm hiện nay, chị Trần Thị Thanh T4 không thực hiện thanh toán theo đúng các cam kết với Ngân hàng.
Tạm tính đến thời điểm ngày 18 tháng 3 năm 202chị Trần Thị Thanh T5 Ngân hàng TMCP S số vốn gốc, lãi quá hạn tổng cộng là 103.298.541 đồng (trong đó: Vốn gốc là 60.000.000 đồng và lãi quá hạn là 43.298.541 đồng).
Việc cố tình dây dưa, không thực hiện đúng như cam kết của chị Trần Thị Thanh T6 ảnh hưởng rất nghêm trọng đến quyền lợi chính đáng và hợp pháp của Ngân hàng, vì lẽ đó để bảo vệ quyền lợi của mình, Ngân hàng TMCP S yêu cầu: Buộc chị Trần Thị Thanh T7 trách nhiệm thanh toán ngay cho Ngân hàng toàn bộ số nợ còn tồn đọng tạm tính đến ngày 18/3/2025 là 103.298.541 đồng (trong đó: Vốn gốc là 60.000.000 đồng và lãi quá hạn, phí là 43.298.541 đồng). Yêu cầu chị Trần Thị Thanh T tiếp tục trả lãi quá hạn, phí theo thoả thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 30/8/2023ngày 18/3/2025 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Trần Thị Thanh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một để làm việc, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của chị T được.
Tại phiên tòa,
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Mai Thành N, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và có gửi Bảng sao kê sử dụng thẻ của chị Trần Thị Thanh T ngày 18/6/2025.
- Bị đơn là chị Trần Thị Thanh T vắng mặt không có lý do.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Về đương sự thì nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định. Tại phiên tòa lần thứ hai, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt tất các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kiểm sát viên không kiến nghị gì thêm.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) yêu cầu chị Trần Thị Thanh T phải thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc còn thiếu và lãi phát sinh tính đến ngày 18/3/2025 theo Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/8/2023là: 103.298.541 đồng (trong đó: Vốn gốc là 60.000.000 đồng và lãi quá hạn là 43.298.541 đồng) và yêu cầu chị Trần Thị Thanh T tiếp tục trả lãi quá hạn theo thoả thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký ngày 30/8/2023ngày 18/3/2025đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam.
[1.2] Về thẩm quyền: Tại thời điểm thụ lý, bị đơn chị Trần Thị Thanh T đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
[1.3] Về sự tham gia phiên tòa của đương sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là anh Mai Thanh N1 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn chị Trần Thị Thanh T vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được triệu tập đến tham dự phiên tòa lần thứ hai; vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một vẫn tiến hành xét xử để giải quyết vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 30/8/2023, chị Trần Thị Thanh T có Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp Thẻ tín dụng cá nhân và được Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B phê duyệt với hạn mức Thẻ là 60.000.000 đồng; lãi suất 29,8%/năm. Như vậy, việc cấp Thẻ tín dụng và lãi suất thoả thuận là sự tự nguyện của các bên, các nội dung trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp Thẻ tín dụng cá nhân đúng quy định của pháp luật nên có giá trị thi hành đối với các bên.
[3] Theo các sao kê tài khoản thẻ mà Ngân hàng cung cấp, thể hiện chị T đã sử dụng số tiền 60.000.000 đồng trong Thẻ, nhưng vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tính đến ngày 18/6/2025 chị T còn nợ số tiền gốc là: 60.000.000 đồng và tiền lãi quá hạn, phí phát sinh là 50.118.061 đồng, tổng cộng là 110.118.061 đồng. Từ khi quá hạn đến nay, Ngân hàng đã nhiều lần có thông báo nợ quá hạn và yêu cầu thanh toán cho chị T, nhưng chị T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi phát sinh của mình. Do vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị T phải trả tiền gốc và lãi, phí phát sinh tính đến ngày 18/6/2025 tổng cộng là: 110.118.061 đồng là có cơ sở nên được chấp nhận.
[4] Chị T tiếp tục phải trả lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp Thẻ tín dụng cá nhân đã ký với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B - Phòng G từ ngày 19/6/2025 cho đến khi chị T trả xong nợ.
[5] Tại tòa, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là có cơ sở.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị T phải nộp án phí trên số tiên phải trả cho Ngân hàng là 110.118.061 đồng, với số tiền án phí là: 110.118.061 đồng x 5% = 5.505.903 đồng; Ngân hàng không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Áp dụng Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn chị Trần Thị Thanh T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc chị Trần Thị Thanh T phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền gốc và lãi phát sinh theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp Thẻ tín dụng cá nhân đã ký ngày 30/8/2023 giữa Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B - Phòng G và chị Trần Thị Thanh T là: 110.118.061đ (một trăm mười triệu, một trăm mười tám nghìn, không trăm sáu mươi mốt đồng).
- Chị Trần Thị Thanh T tiếp tục phải trả lãi, phí phát sinh theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp Thẻ tín dụng cá nhân đã ký ngày 30/8/2023 giữa Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B - Phòng G và chị Trần Thị Thanh T từ ngày 19/6/2025 cho đến khi trả xong nợ.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Trần Thị Thanh T phải nộp: 5.505.903₫ (năm triệu, năm trăm lẻ lăm nghìn, chín trăm lẻ ba đồng).
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.582.000₫ (hai triệu, năm trăm tám mươi hai nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001645 ngày 03/4/2025.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận: TAND tỉnh Bình Dương; VKSND thành phố Thủ Dầu Một; Chi cục THADS thành phố TDM; Các đương sự; Lưu VP, HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thế Vọng |
5
Bản án số 174/2025/DS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 174/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S tranh chấp hợp đồng tín dụng với chị T2
