|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 174/2024/HS-ST
Ngày: 12/6/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vương Đình Quang;
- Ông Bùi Bá Huynh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xét xử trực tuyến - Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 26/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HS ngày 13/5/2024 đối với các bị cáo:
- Họ tên: Cái Sinh Hoàng M;
- Họ tên: Nguyễn Thị Hiền T
Sinh ngày 27/03/2006 (17 tuổi 9 tháng 23 ngày) Giới tính: Nam
HKTT: SỐ D N, phường B, quận H, Hà Nội.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh; -Tôn giáo: Không;
Trình độ: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Cái Sinh L Sinh năm: 1964
Con bà: Nguyễn Thanh H Sinh năm: 1972
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 26/3/2024, Cơ quan CSĐT – C3, Hà Nội ra Quyết định khởi tố bị cáo số 173 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 - Điều 173 - Bộ luật hình sự.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/01/2024, tạm giữ từ ngày 19/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H.
Sinh ngày: 07 tháng 6 năm 2007 (16 tuổi 8 tháng 03 ngày) Giới tính: Nữ
HKTT: số A, phố H, phường H, H, Hà Nội
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh; -Tôn giáo: Không;
Trình độ: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Nguyễn Mạnh C Sinh năm: 1980
Con bà: Trịnh Thị P Sinh năm: 1979
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 20/4/2023, Công an quận T, TP Hà Nội xử phạt hành chính cảnh cáo về hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo bị bắt quả tang từ ngày 18/01/2024, tạm giữ từ ngày 19/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H.
Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện của các bị cáo đều có mặt:
- - Người đại diện của bị cáo Cái Sinh Hoàng M1: Ông Cái Sinh L, sinh năm 1964 (bố đẻ). HKTT: SỐ D N, B, H, Hà Nội.
- - Người đại diện của bị cáo Nguyễn Thị Huyền T1: Bà Trịnh Thị P, sinh năm 1979 (mẹ đẻ). HKTT: SỐ A H, H, H, Hà Nội.
Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Quang Á – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 15 phút ngày 18/01/2024, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận N, Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực ngõ B L, M, N, Hà Nội, khi đi qua khu vực trước sảnh B toà nhà The Z (ngõ B đường L, M, N, Hà Nội) phát hiện 01 nam, 01 nữ thanh niên ngồi trên xe máy BKS:29B1-984.59 dừng xe. Nam thanh niên mượn điện thoại của 01 người gọi sau đó đi đến khu vực lư hương hóa vàng mã của tòa nhà rồi đi vào tòa nhà gặp 01 thanh niên, người thanh niên trên đang đưa 200.000 đồng thì lực lượng công an kiểm tra, người thanh niên bỏ chạy làm rơi 01 điện thoại. Tại chỗ người thanh niên đi xe máy khai tên Cái Sinh Hoàng M và người nữ đi cùng là Nguyễn Thị Hiền T. M và T khai nhận cùng nhau đi bán ma túy loại Tobaco cho khách, khi đang giao dịch nhận tiền bán ma túy thì bị bắt quả tang, M tự nguyện giao nộp 200.000 đồng tiền bán ma túy mà khách mua vừa trả và 01 gói nilong ma túy tobaco M giấu tại lư hương đốt vàng mã trước khi vào gặp người mua. Tổ công tác niêm phong tang vật, lập biên bản và dẫn giải đối tượng về trụ sở để đấu tranh làm rõ. (BL 73-75)
* Vật chứng thu giữ (BL 78,79):
- - 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong chứa thảo mộc khô màu vàng là ma tuý loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 6,181 gam;
- - 01 (một) điện thoại kiểu dáng Nokia màu xanh gắn sim số 0927581341;
- - 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Wave màu đen BKS: 29B1 – 984.59;
- - Số tiền 300.000 đồng (200.000 đồng Minh giao nộp và 100.000 đồng T giao nộp).
* Quá trình điều tra xác định:
Cái Sinh Hoàng M và Nguyễn Thị Hiền T là người yêu của nhau do không có công ăn việc làm và cần tiền tiêu xài cá nhân nên M và T đã bàn nhau mua ma túy T2 để bán kiếm lời. Qua bạn bè xã hội, T biết ở khu vực ngõ B đường T, phường T, quận H, Hà Nội có người bán ma túy Tobaco. (BL 165-166; BL 194-197)
Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 18/01/2024, Cái Sinh Hoàng M được một người bạn xã hội nhắn tin qua Messenger hỏi có biết ai bán T2 không, M trả lời có và M cho số điện thoại của bố M để tiện liên lạc (do M không có điện thoại). Khoảng 15 giờ 30 ngày 18/01/2024, khi M và T đang ở nhà của M tại số D đường N, phường B, quận H, Hà Nội thì có số điện thoại 0927.581.xxx liên hệ đến số điện thoại 0979.456.xxx (số điện thoại của ông Cái Sinh L) hỏi mua 500.000 đồng ma túy T2 và thoả thuận sẽ chuyển khoản trước số tiền 400.000 đồng, số tiền còn lại sẽ thanh toán khi giao ma tuý, hẹn giao đến khu vực sảnh B, chung cư T, phường M, N. M đồng ý và thoả thuận tiền công ship 100.000 đồng, khách mua đồng ý. Sau đó, M bàn bạc, thống nhất với T đi mua Tobaco để bán cho khách và nhắn tin số tài khoản 0376116770 ngân hàng M2 của M cho khách mua ma tuý. Khoảng 16 giờ cùng ngày, M nhận được số tiền 400.000 đồng từ tài khoản ngân hàng T5: 21666666666 tên Phùng Tuấn K chuyển đến số tài khoản ngân hàng của M. Sau khi nhận được tiền, M mượn xe máy BKS: 29B1-984.59 của bố M (M nói với ông C1 Sinh Lương là chở T về nhà) đến khu vực hồ H gặp một người bạn xã hội tên T3 (không xác định được nhân thân lai lịch) để mượn điện thoại của T3 đăng nhập tài khoản ngân hàng M2 của mình nhờ chuyển cho người đi đường (không rõ lai lịch) số tiền 400.000 đồng để nhận tiền mặt. Sau đó, M và T đi đến khu vực ngõ B đường T, phường T, quận H, Hà Nội để mua ma túy. Tại đây, M dừng xe đưa cho T số tiền 400.000 đồng và chờ ở đầu ngõ; T một mình đi bộ vào trong ngõ B đường T đứng trước cửa nhà hỏi người bán ma túy và mua 300.000 đồng tiền ma túy T2, người bán ma túy thò tay qua cửa đưa T túi zíp màu trắng bên trong chứa ma túy tobaco, sau đó T quay lại đầu ngõ gặp M rồi cả hai đi xe máy đến sảnh B, tòa nhà T để bán ma túy. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, cả hai đến điểm hẹn, M dừng xe ở trước sảnh B cất giấu túi ma túy Tobaco vào lư hóa vàng ở trước sảnh B, tòa nhà T rồi đi bộ vào trong sảnh, T đứng cạnh xe máy cảnh giới. Do không có điện thoại nên M đã mượn máy điện thoại của anh Lò Văn C2 (Sinh năm: 1998; HKTT: Bản Đắng, xã M, huyện M, Điện Biên) là người giao hàng đứng gần đó để gọi vào số điện thoại 0927.581.xxx của khách mua ma túy. Khoảng 05 phút sau M thấy có 01 nam thanh niên (khoảng hơn 20 tuổi, cao khoảng 1m70 dáng người hơi đậm) đến gặp và người này đưa cho M số tiền 200.000 đồng thì bị cơ quan công an quận N phát hiện, Nam thanh niên bỏ chạy đánh rơi 01 điện thoại Nokia màu xanh. Cơ quan công an kiểm tra thu giữ túi ma tuý Tobaco của M và lập biên bản niêm phong tang vật, đưa M và T về trụ sở làm việc. (BL 152-168; BL 187-197)
Tại Kết luận giám định số 954 ngày 26/01/2024 của phòng KTHS - Công an thành phố H xác định (BL 84): Thảo mộc khô bên trong 01 (một) túi nilon có tổng khối lượng là 6,181 gam có ma tuý loại MDMB - 4en – PINACA.
* Về nguồn gốc số ma tuý:
Cơ quan công an đã dẫn giải bị cáo T, M đến địa chỉ mua ma túy tại đầu ngõ B đường T, phường T, quận H, Hà Nội, tiến hành rà soát camera, nhân chứng nhưng chưa phát hiện thông tin của đối tượng. Do cả M và T không biết nhân thân, lai lịch của người bán ma túy nên Cơ quan công an không có căn cứ để xác minh làm rõ. (BL 87-88)
*Về đối tượng mua ma túy sử dụng số điện thoại 0927.581.xxx:
Cơ quan Công an đã tiến hành rà soát nhân chứng, camera theo hướng đối tượng bỏ chạy nhưng không phát hiện thông tin liên quan đến đối tượng. Xác minh chủ thuê bao số điện thoại trên xác định tên Nguyễn Ngọc K1 (Sinh năm: 1990; HKTT: Đông Trung, Đ, V, Quảng Ninh), anh K1 xác định không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên, không quen biết và không có quan hệ với bị cáo. Về số tài khoản Ngân hàng T6: 21666666666 tên “Phung Tuan Kien” chuyển số tiền 400.000 đồng cho bị cáo M để mua ma tuý. Qua xác minh xác định chủ tài khoản là anh Phùng Tuấn K (sinh năm: 1987; HKTT: TDP số 6, P, phường M, N, TP Hà Nội). Ghi lời khai anh Phùng Tuấn K xác định anh K làm dịch vụ chuyển tiền 24/7 tại số A đường M, phường M, N hàng ngày có nhiều khách hàng đến chuyển tiền nên anh K không thể xác định ngày 18/01/2024 ai là người đến chuyển số tiền 400.000 đồng, dữ liệu camera của cửa hàng chỉ lưu được khoảng 05 ngày. Anh K không quen biết và không có quan hệ với các bị cáo. Do bị cáo M và T đều không biết thông tin, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan điều tra không có căn để xác minh, làm rõ. (BL 211, 215)
* Về chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 29B1 – 984.59:
Qua xác minh xác định chủ xe tên là Lê Tuấn A (SN: 1972; HKTT: số 25, ngách D phố Đ, phường V, B, Hà Nội), anh Tuấn A xác định khoảng năm 2019, anh Tuấn A mua và đăng ký chiếc xe máy trên. Khoảng tháng 10/2022, do không còn nhu cầu sử dụng nên đã bán lại chiếc xe máy trên cho một người không quen biết. Khoảng tháng 10/2022, ông L (bố đẻ của bị cáo M) mua chiếc xe máy trên với giá khoảng 16 triệu đồng để sử dụng cá nhân, chưa làm thủ tục sang tên. Bị cáo Cái Sinh Hoàng M1 khai chiều ngày 18/01/2024 mượn chiếc xe máy trên của bố đẻ là ông Cái Sinh L (Sinh năm: 1964; HKTT: Số D N, phường B, H, Hà Nội) để đưa T về nhà. Ghi lời khai xác định. Tra cứu dữ liệu xe tang vật tại Phòng PC02 - Công an T xác định: chiếc xe máy trên không nằm trong dữ liệu hệ thống xe vật chứng. Ông L không biết việc M1 và T có hành vi mua bán ma tuý T2 và sử dụng chiếc điện thoại và xe máy trên để đi bán ma tuý do đó cơ quan điều tra không xem xét xử lý. (BL 205-207)
Ngày 23/02/2024, Cơ quan CSĐT – C4 đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 1027 và trao trả cho ông C1 Sinh Lương 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave màu đen BKS: 29B1 – 984.59. Ông L đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì. (BL 38,39)
Tại cơ quan điều tra, Cái Sinh Hoàng M1, Nguyễn Thị Hiền T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên; lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người liên quan, kết luận giám định và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đã thu thập được.
Tại bản cáo trạng số 111/CT - VKS ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm các bị cáo Cái Sinh Hoàng M1, Nguyễn Thị Hiền T bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo M1 khai nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo T không thành khẩn khai nhận tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận bị cáo Cái Sinh Hoàng M1, Nguyễn Thị Hiền T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ:
- + Áp dụng Khoản 1, Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 90, 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cái Sinh Hoàng M1 từ 18 đến 21 tháng tù.
- + Áp dụng Khoản 1, Điều 251; Điều 38; Điều 58; Điều 90, 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hiền T từ 18 đến 21 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký niêm phong của Cái Sinh H và Nguyễn Thị Hiền T; Cán bộ Đội CSĐTTP về ma túy, C4 và Giám định viên.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại kiểu dáng Nokia màu xanh, gắn 01 sim; số tiền 300.000 đồng.
Người bào chữa cho các bị cáo:
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, xử các bị cáo hình phạt dưới mức đại diện Viện kiểm sát đề xuất do các bị cáo là người chưa thành niên, trình độ văn hoá thấp, khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo M1 thành khẩn khai nhận tội, hai bị cáo đều nhiều năm liền đạt học sinh giỏi.
Lời nói sau cùng các bị cáo thấy ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận tội bị cáo M1 tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 18/01/2024 tại sảnh B toà nhà T (ngõ B đường L, M, N, Hà Nội), Cái Sinh Hoàng M1 và Nguyễn Thị Hiền T đang có hành vi bán trái phép ma túy cho 01 nam thanh niên (chưa rõ nhân thân) thì bị tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Công an quận N, Hà Nội bắt quả tang, thu giữ 6,181 gam thảo mộc có ma tuý loại MDMB - 4en – PINACA cùng vật chứng, nam thanh niên mua ma túy đã bỏ chạy và làm rơi 01 điện thoại Nokia màu xanh.
Hành vi của bị cáo Cái Sinh Hoàng M1 và Nguyễn Thị Hiền T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo M1 thành khẩn khai nhận tội. Bị cáo T chưa thành khẩn khai nhận tội. Tuy nhiên lời khai của bị cáo T tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai và các chứng cứ khác, phù hợp với lời khai của bị cáo M1. Tại phiên toà bị cáo T cũng khẳng định trong quá trình điều tra, bị cáo không bị ép cung, bị cáo M1 khẳng định hành vi của bị cáo T4 như cáo trạng truy tố là đúng. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo T theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Các bị cáo nhận thức rõ việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[4] Xét vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Vụ án có đồng phạm giản đơn. M1 là người trực tiếp liên hệ với người mua ma túy và trực tiếp nhận tiền, chở T đi mua ma túy về để bán và giao cho người mua. T là người trực tiếp giao dịch với người bán ma túy.
Nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo M1 thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo M1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không.
[5] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên: Xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi phạm tội hai bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên được áp dụng các quy định về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi theo Điều 90, 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án đã bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm là:
- + 01 phong bì niêm phong có chữ ký niêm phong của Cái Sinh H và Nguyễn Thị Hiền T; Cán bộ Đội CSĐTTP về ma túy, C4 và Giám định viên cần tịch thu tiêu hủy.
- + 01 điện thoại kiểu dáng Nokia màu xanh, gắn 01 sim; số tiền 300.000 đồng liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[8] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cái Sinh Hoàng M1 và bị cáo Nguyễn Thị Hiền T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng:
Áp dụng: Khoản 1, Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 90, 91, Điều 101 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Cái Sinh Hoàng M 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
Áp dụng: Khoản 1, Điều 251; Điều 38; Điều 90, 91, Điều 101 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Thị Hiền T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký niêm phong của Cái Sinh H và Nguyễn Thị Hiền T; Cán bộ Đội CSĐTTP về ma túy, C4 và Giám định viên.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại kiểu dáng Nokia màu xanh, gắn 01 sim; số tiền 300.000 đồng.
(Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng số 189 ngày 25/4/2024 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 25/4/2024).
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người đại diện cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thúy Anh |
9
Bản án số 174/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 174/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Cái Sinh Hoàng M và Nguyễn Thị Hiền T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
