|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Thuỷ và ông Nguyễn Văn Vỵ.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Hồng Linh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Long – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Đoàn T2 (Tên gọi khác: Bôn); Sinh ngày 21/12/1995 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: 1 T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; CCCD số: [...]; cấp ngày 02 tháng 7 năm 2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn D, sinh năm 1958 và bà Phan Thị N, sinh năm 1960; Đã ly hôn; có 01 con sinh năm 2018; tiền sự: Không; tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/01/2024, chuyển tạm giam ngày 25/01/2014 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Lê Hoành H, sinh năm 1982; Nơi cư trú: E T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng nên vào khoảng 20 giờ ngày 15/01/2024, Đoàn Văn T liên lạc qua mạng xã hội Telegram với 01 (một) người đối tượng tên “Gà” (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể) hỏi mua 80 (tám mươi) viên ma túy dạng hồng phiến với giá 2.400.000 đồng, do T chỉ có 1.200.000 đồng nên T nói G cho T nợ ít hôm rồi trả sau thì “Gà” đồng ý. Theo chỉ dẫn của “Gà”, Tân bỏ 1.200.000 đồng vào vỏ gói thuốc lá Sài G1 và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75B1-407.92 đến đầu đường T để bên đường. Sau khi “Gà” lấy được
tiền, G gọi điện yêu cầu T đến lấy ma túy được bỏ trong vỏ gói thuốc lá S để dưới góc cây phượng trước chung cư ở gần chợ T3. Sau khi có ma túy, T điều khiển xe mô tô đến thuê phòng 203 tại nhà nghỉ T4, địa chỉ số A T, phường T, thành phố H để sử dụng ma túy. Tại đây, T kiểm tra chỉ có 40 viên ma túy hồng phiến. T sử dụng khoảng hơn 10 viên ma túy, một số viên ma túy bị ướt nên T bỏ vào bồn cầu nhà vệ sinh xả nước. Số ma tuý còn lại Tân bỏ vào trong túi quần đang mặc trên người và trả phòng đi về. Khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 16/01/2024, T vừa ra khỏi nhà nghỉ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang thu giữ trên người T 01 (một) gói ni lông màu trắng xanh có chữ H1, bên trong có chứa 20 (hai mươi) viên nén màu đỏ.
Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Đoàn Thanh T1, kết quả T1 dương tính với chất ma túy.
Quá trình điều tra, T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) gói ni lông màu trắng xanh có chữ H1, bên trong có chứa 20 (hai mươi) viên nén màu đỏ.
- - 01 (một) điện thoại Iphone, màu hồng có số imei: 354890097489237, có gắn thẻ sim số: 0777434513.
- - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 75B1-407.92, nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đen, bạc.
Tại kết luận giám định số: 27/KL-KTHS ngày 18/01/2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 20 (Hai mươi) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định (nêu tại mục 1, phần II) có tổng khối lượng là 1,8723g (Một phẩy tám bảy hai ba gam), là ma túy, loại Methamphetamine.
Sau khi giám định, Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục tạm giữ, gồm: 1,6723g (Một phẩy sáu bảy hai ba gam) mẫu bột được nghiền từ 20 (Hai mươi) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ và các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
Tại bản Cáo trạng số: 150/CT-VKSTPH ngày 22/4/2024, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Đoàn Thanh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Thanh T1 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- - Đối với toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói kèm theo, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone, màu hồng có số imei: 354890097489237, có gắn thẻ sim số: 0777434513 của Đoàn T2 sử dụng để liên lạc mua ma túy nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 xe môtô biển kiểm soát: 75B1-407.92, nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu: Trắng-đen-bạc của Đoàn Thanh T1. T1 sử dụng xe này để làm phương tiện đi lại hàng ngày. Mặc dù T1 có sử dụng xe này để đi mua ma túy và thuê nhà nghỉ để sử dụng ma tuý. Tuy nhiên, sau khi mua ma tuý và khi bị bắt quả tang, T1 cất giấu ma tuý trong túi quần mặc trên người. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe này cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo và lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Trên cơ sở lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 16/01/2024, tại trước nhà nghỉ T4, địa chỉ: Số A đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Đoàn Thanh T1 có hành vi tàng trữ trái phép 1,8723g (Một phẩy tám bảy hai ba gam) ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.
Đoàn Thanh T1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Với hành vi và khối lượng chất ma túy nói trên, Đoàn Thanh T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Đoàn Thanh T1 và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố H, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm ma túy. Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận. Xét bị cáo là người nghiện ma túy và hiện đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Các vấn đề khác: Đối với đối tượng bán ma túy tên “Gà”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tiến hành xác minh tại đường T có người tên là Trần Ngọc Phương H2 (sinh ngày 26/3/1982, thường trú tại I T, phường Đ, thành phố H), tên thường gọi là G. Qúa trình làm việc với Cơ quan Công an thành phố H, H2 khai không bán ma túy cho ai. Qúa trình điều tra vụ án không có tài liệu, chứng cứ về việc H2 bán ma túy nên không có căn cứ xử lý.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 1,6723g (Một phẩy sáu bảy hai ba gam) mẫu bột được nghiền từ 20 (Hai mươi) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ và các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone, màu hồng có số imei: 354890097489237, có gắn thẻ sim số: 0777434513 thu giữ Đoàn T. Quá trình điều tra làm rõ, T1 sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 xe môtô biển kiểm soát: 75B1-407.92, nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu: Trắng-đen-bạc thuộc sở hữu của Đoàn Thanh T1. T1 sử dụng xe này để làm phương tiện đi lại hàng ngày. Mặc dù T1 có sử dụng xe này để đi mua ma túy và thuê nhà nghỉ để sử dụng ma tuý. Tuy nhiên, sau khi mua ma tuý và khi bị bắt quả tang, T1 cất giấu ma tuý trong túi quần mặc trên người. Vì vậy, cần trả lại xe này cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh T1 (Tên gọi khác: B) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thanh T1 (Tên gọi khác: Bôn) 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 16/01/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 1,6723g (Một phẩy sáu bảy hai ba gam) mẫu bột được nghiền từ 20 (Hai mươi) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ và các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại hiệu Iphone, màu hồng có số imei: 354890097489237, có gắn thẻ sim số: 0777434513;
- - Trả lại cho Đoàn Thanh T1: 01 xe môtô biển kiểm soát: 75B1-407.92, nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu: Trắng-đen-bạc, số máy: JA39E1079579; số khung: RLHJA3913KY220753.
(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như mô tả trong Quyết định vật chứng số: 103/QĐ-VKSTPH ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Huế và biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự ; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đoàn Thanh T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Hồng |
Bản án số 129/2024/TLST-HS ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 129/2024/TLST-HS
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh Tân (Tên gọi khác: Bôn) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
