Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:174/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 5 - 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa

Ông Mai Xuân Thường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 300/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định hoãn phiên toà số 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị X, sinh năm 1985.
  2. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện tại: Rozdroze A, 30-333 Kraków, P(Ba Lan). Có đơn xin xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Nguyễn Văn P, sinh năm 1989.
  4. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, trình bày tại bản tự khai (Có chứng thực của Đ tại Cộng hòa B) nguyên đơn chị Đỗ Thị X trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 12 năm 2020, tại Đ tại V-sa-va, Cộng hòa B. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian thì chị X và anh P bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có khác biệt về lối sống, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt hằng ngày. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng và gay gắt. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không còn, không tìm được tiếng nói chung. Đến tháng 07/2022, vợ chồng chị X và anh P quyết định ly thân và cắt đứt liên lạc cho đến thời điểm hiện tại. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị X làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn P.

Về con chung: Chị Đỗ Thị X và anh Nguyễn Văn P không có con chung. Do vậy, chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị đang sinh sống và làm việc tại Ba Lan chị xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và ủy quyền cho chị Lê Thị D, sinh năm 1996; địa chỉ: Số B P, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh thay mặt chị nộp và nhận các văn bản của Tòa án.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn P: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Nguyễn Văn P vắng mặt. Chị Đỗ Thị X không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh P cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh P đang sinh sống tại Ba Lan. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu bà Nguyễn Thị D1 (Là mẹ ruột của anh P), trú tại: Thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu bà D1 thông báo với anh P để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, tại đơn trình bày bà D1 cho biết thời gian ở nước ngoài, anh P thỉnh thoảng liên lạc về với bà qua điện thoại còn địa chỉ cụ thể của anh P thì anh P không cung cấp nên bà không biết. Bà đã thông báo cho anh P biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị X và anh P. Thông quan bà thì anh P đồng ý ly hôn chị X.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đỗ Thị X ly hôn với anh Nguyễn Văn P. Về con chung: Chị Đỗ Thị X và anh Nguyễn Văn P không có con chung, chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu nên không xem xét; dành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đỗ Thị X hiện cư trú tại Ba Lan làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn P hiện cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, anh P có địa chỉ cư trú tại Thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Văn P vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu bà Nguyễn Thị D1 (Là mẹ ruột của anh P) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh P biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, bà D1 không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh P. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh P liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh P trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Đỗ Thị X có đơn xin xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị X và anh Nguyễn Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 12 năm 2012, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị X và anh P sống với nhau hạnh phúc. Sau một thời gian chung sống giữa hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng không có tiếng nói chung. Từ năm 2022, chị X và anh P đã sống ly thân. Xét thấy, chị X và anh P không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Đỗ Thị X được ly hôn anh Nguyễn Văn P.

[2.2] Về con chung: Chị Đỗ Thị X và anh Nguyễn Văn P không có con chung, chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đỗ Thị X không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Đỗ Thị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị X.

    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị X được ly hôn anh Nguyễn Văn P.
    • - Về con chung: không giải quyết.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

    Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.

  2. Về án phí: Chị Đỗ Thị X phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004473 ngày 13/10/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

  3. Chị Đỗ Thị X và anh Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

  4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Sơ tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 174/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 174/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger