Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1735/2025/DS-PT

Ngày: 31 - 12 - 2025

V/v tranh chấp kiện đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Đa.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng

Bà Đinh Thị Mộng Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Khang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm số 1397/2025/TLPT-DS ngày 01/12/2025 về việc “tranh chấp kiện đòi tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7454/2025/QĐXXPT-DS ngày 08/12/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn Q, sinh năm 1983; thường trú: Số E khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh); địa chỉ liên hệ: 7C đường N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đậu Đức N, sinh năm 1992 hoặc bà Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh năm 2001 hoặc ông Lê Tấn T, sinh năm 1999; cùng địa chỉ liên lạc: 7C đường N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh), là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 04/4/2025); ông Lê Tấn T có mặt, ông Đậu Đức N và bà Nguyễn Thị Quỳnh H vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quang H1, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ A, khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã D, tỉnh Đồng Nai); chỗ ở: Căn hộ B. 27-12, chung cư O, số A, đường K, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh); có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1955; địa chỉ: Số E khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh); có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/4/2025, lời khai trong quá trình tố tụng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ông Huỳnh Văn Q là người sử dụng diện tích đất 400m², thuộc thửa đất số 767, tờ bản đồ số 12TDH.1 tại khu phố Đ, phường D, thị xã D (sau này là thành phố), tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh); theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 04535 cấp ngày 14/11/2011. Ngày 19/5/2015, ông Q ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 767, diện tích 400m² cho ông Nguyễn Quang H1; giá ghi trên hợp đồng là 300.000.000 đồng nhưng giá trị thực tế là 810.000.000 đồng.

Ông H1 đã giao đủ số tiền 810.000.000 đồng, nhận đất và hoàn thành việc đăng ký sang tên ông H1. Sau khi được cấp giấy chứng nhận thì ông H1 nói đất bị quy hoạch 01 phần (quy hoạch giao thông) nên ông H1 yêu cầu ông Q hoán đổi thửa đất còn lại của ông Q liền ranh thửa đất số 767; ông Q đồng ý và thống nhất với ông H1 là giá trị thửa đất của ông H1 là 600.000.000 đồng, do đó ông H1 phải trả lại cho ông Q 210.000.000 đồng.

Sau khi hai bên thỏa thuận xong thì mẹ ông Q là bà Phạm Thị L cùng ông Q đến Ngân hàng rút tiền mặt đưa cho ông Q 210.000.000 đồng, để ông Q nộp vào tài khoản của ông Q. Hai bên không lập văn bản, hợp đồng về việc thỏa thuận hoán đổi đất, giao tiền.

Một thời gian sau (không rõ năm nào) ông Q không thực hiện việc hoán đổi mà đem thửa đất số 767 (diện tích 400m²) chuyển nhượng cho người khác mà không trả lại tiền cho ông Q. Do đó, ông Q khởi kiện yêu cầu ông H1 trả lại cho ông Q 210.000.000 đồng; quá trình tố tụng, ông H1 thừa nhận có nhận của ông Q 100.000.000 đồng nên ông Q chỉ yêu cầu ông H1 trả lại cho ông Q 100.000.000 đồng.

Bị đơn ông Nguyễn Quang H1 trình bày:

Ông H1 thừa nhận có nhận chuyển nhượng thửa đất số 767, diện tích 400m² của ông Q vào năm 2015 như ông Q trình bày; ông H1 đã giao đủ tiền chuyển nhượng, nhận đất và chuyển nhượng cho người khác, chuyển nhượng lâu rồi nên không nhớ.

Ông H1 có nhớ là sau khi ông H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông H1 thất 01 phần thửa đất nằm trong quy hoạch, do đó ông H1 yêu cầu ông Q bồi hoàn một phần tiền; sau đó hai bên thỏa thuận là ông Q đưa cho ông H1 khoản hơn 100 triệu, ông H1 không nhớ chính xác vì sự việc đã quá lâu.

Ông H1 không có thỏa thuận trao đổi đất gì với ông Q nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Q.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, tại biên bản lấy lời khai bà L trình bày: Giữa ông H1 và ông Q có thỏa thuận đổi đất, nhưng thực tế các bên không thực hiện. Bà L đi cùng với ông Q đến Ngân hàng rút tiền và đưa cho ông H1.

Bà L thống nhất với ý kiến của ông Q.

Tại Bản án dân sự số 139/2025/DS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn Q với bị đơn ông Nguyễn Quang H1 về việc tranh chấp kiện đòi tài sản.

Ngoài ra bản án cón quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 23/9/2025, nguyên đơn ông Huỳnh Văn Q kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên hai bên không tự thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

  • - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn nhưng không có bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, án sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nguyên đơn kháng cáo nhưng không có chứng cứ gì mới, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tại Văn bản ủy quyền ngày 04/4/2025, nguyên đơn ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Đậu Đức N hoặc bà Nguyễn Thị Quỳnh H hoặc ông Lê Tấn T; nội dung văn bản ủy quyền và quá trình tố tụng các đương sự thừa nhận trong 03 người được ủy quyền thì trường hợp chỉ có 01 người tham gia tố tụng vẫn đảm bảo được quyền hạn, trách nhiệm đại diện cho quyền lợi của nguyên đơn; do đó, Tòa án chấp nhận tư cách của ông Lê Tấn T có toàn quyền đại diện cho quyền lợi của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm.

[1.2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Quang H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Hai bên trình bày thống nhất vào ngày 19/5/2015, ông Huỳnh Văn Q chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quang H1 diện tích đất 400m², thuộc thửa đất số 767, tờ bản đồ số 12TDH.1 tọa lạc tại khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; giá chuyển nhượng thực tế 810.000.000 đồng. Hợp đồng đã hoàn thành, đã giao nhận đủ tiền, giao đất, sau khi sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông H1 cũng đã chuyển nhượng cho người khác.

[2.2] Ông Q trình bày: Sau khi ông H1 sang tên giấy chứng nhận thì biết trong diện tích 400m² có một phần đất bị quy hoạch, do đó ông H1 đề nghị ông Q là hai bên trao đổi đất, theo đó ông Q nhận lại thửa đất 400m² và giao cho ông H1 thửa đất ông Q đang sử dụng (02 thửa đất liền ranh nhau); do thửa đất ông Q đang sử dụng diện tích nhỏ hơn nên ông Q phải bù thêm cho ông H1 số tiền 210.000.000 đồng. Sau khi trao đổi hai bên thống nhất, ông Q và mẹ là bà L ra Ngân hàng rút tiền mặt giao cho ông H1 210.000.000 đồng. Hai bên không làm hợp đồng hoặc giấy tờ ghi nội dung thỏa thuận, giao tiền cũng không lập biên nhận. Do ông H1 nhận tiền nhưng không thực hiện thỏa thuận mà lại chuyển nhượng đất cho người khác nên ông H1 khởi kiện đòi ông Q trả lại số tiền 210.000.000 đồng.

Ông H1 không thừa nhận lời trình bày của ông Q và trình bày: do diện tích đất 400m² có một phần quy hoạch nên ông Q phải bù thêm cho ông H1, lâu quá rồi ông H1 không nhớ cụ thể nhưng ông Q bù thêm cho ông H1 khoản hơn 100.000.000 đồng; hoàn toàn không có việc trao đổi như ý kiến ông Q.

[2.3] Quá trình tố tụng, ông Q không có bất kỳ chứng cứ gì khác để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Mặt khác, hợp đồng chuyển nhượng đã hoàn thành, hai bên đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ từ năm 2015, ông Q trình bày hai bên thỏa thuận trao đổi đất từ năm 2015 nhưng đến năm 2023 ông Q mới có đơn khiếu nại, tố cáo và khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm ông Q cũng không có chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình.

[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc không chấp nhận kháng cáo của ông Q và giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Q phải chịu theo quy định.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Q phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 và 313 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn Q.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự số 139/2025/DS-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện kiện của ông Huỳnh Văn Q đòi ông Nguyễn Quang H1 trả lại số tiền 100.000.000 đồng.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn Q phải chịu số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004742 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh). Ông Huỳnh Văn Q còn phải tiếp tục nộp số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Quang Q1 phải chịu số tiền 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027280 ngày 16/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - VKSND Tối cao;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Khu vực 16 - TP.HCM;
  • - Phòng THADS khu vực 16 - TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Minh Đa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1735/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 1735/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp kiện đòi tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger