|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1731/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 11 - 2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 923/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 634/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày ngày 07 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 473/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thanh T, sinh năm 1994. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Thường trú: Xóm K, Thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
Nơi cư trú: E Ấp A (Tổ B, ấp M 1 cũ), xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 2003. (Vắng mặt)
Thường trú: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: E Ấp A (Tổ B, ấp M 1 cũ), xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không hòa giải được, nguyên đơn ông Huỳnh Thanh T trình bày:
Sau một thời gian tìm hiểu, ông Huỳnh Thanh T và bà Phạm Thị Ngọc H đã tự nguyện chung sống với nhau từ tháng 06/2023 và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 22/8/2023.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại E Ấp A (Tổ B, ấp M 1 cũ), xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không cùng chung suy nghĩ, bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ, cãi vã. Ông T và bà H đã nhiều lần cố gắng hàn gắn đoàn tụ, cho nhau cơ hội nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Ông T và bà H đã quyết định sống ly thân từ giữa tháng 9/2024. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mặc ai nấy sống và tự lo cho bản thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã trở nên lạnh nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng nhau, không thể hàn gắn trở về chung sống với nhau được. Do đó, ông T yêu cầu được ly hôn với bà H.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí: Ông T tự nguyện chịu.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ, trở về chung sống với nhau nhưng chỉ có nguyên đơn ông Huỳnh Thanh T có mặt theo triệu tập của Tòa án, bà Phạm Thị Ngọc H vắng mặt không lý do, nên không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ đúng quy định. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn và bị đơn có chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 22/8/2023 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được hiện đã ly thân nên việc nguyên đơn xin được ly hôn với bị đơn là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Đương sự tự khai không có nên không xem xét.
Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn ông Huỳnh Thanh T với bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H là “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ E Ấp A (Tổ B, ấp M 1 cũ), xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Huỳnh Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Phạm Thị Ngọc H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà H vẫn vắng mặt không lý do.
Trong đơn khởi kiện, ông T đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn nhưng bị đơn thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Tòa án xác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung theo quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015
Bà Phạm Thị Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Thanh T và bà Phạm Thị Ngọc H tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 65 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 22/8/2023 thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Huỳnh Thanh T và bà Phạm Thị Ngọc H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
[4] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh T.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Huỳnh Thanh T xin được ly hôn với bà Phạm Thị Ngọc H do vợ chồng không cùng chung suy nghĩ, bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ, cãi vã. Ông T và bà H đã nhiều lần cố gắng hàn gắn đoàn tụ, cho nhau cơ hội nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Ông T và bà H đã quyết định sống ly thân từ giữa tháng 9/2024. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mặc ai nấy sống và tự lo cho bản thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã trở nên lạnh nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng nhau, không thể hàn gắn trở về chung sống với nhau được.
Tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Quá trình giải quyết vụ án, bà H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà H vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông T. Như vậy, bà H đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ được đưa ra chứng cứ để chứng minh, nên Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết vụ án theo các chứng cứ do nguyên đơn ông T đã giao nộp có trong hồ sơ vụ án.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa ông T và bà H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Ông T và bà H đã nhiều lần cố gắng hàn gắn đoàn tụ, cho nhau cơ hội nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Ông T và bà H đã quyết định sống ly thân từ giữa tháng 9/2024 đến nay. Từ đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng ông T và bà H đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ghi nhận lời trình bày của nguyên đơn không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của nguyên đơn không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 192, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 19, Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
- - Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh T.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Thanh T được ly hôn với bà Phạm Thị Ngọc H.
1.2. Về con chung: Ghi nhận lời trình bày của ông Huỳnh Thanh T không có con chung.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của ông Huỳnh Thanh T không có tài sản chung và nợ chung.
[2] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông Huỳnh Thanh T phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0039776, ký hiệu BLTU/23P ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Huỳnh Thanh T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[3] Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Hồng Hải |
Bản án số 1731/2024/HNGĐ-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1731/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh T 1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Thanh T được ly hôn với bà Phạm Thị Ngọc H. 1.2. Về con chung: Ghi nhận lời trình bày của ông Huỳnh Thanh T không có con chung. 1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của ông Huỳnh Thanh T không có tài sản chung và nợ chung. [2] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông Huỳnh Thanh T phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0039776, ký hiệu BLTU/23P ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Huỳnh Thanh T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
