Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2023/HS-ST

Ngày: 28 -11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ- TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thủy.

2. Bà Nguyễn Thị Hiền.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Duy Khiêm- Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2023/TLST - HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2023/QĐXXST - HS ngày 17/11/2023, đối với bị cáo:

Phạm Văn N - Tên gọi khác: không; sinh ngày 02 tháng 12 năm 1981, tại huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ A, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: tổ A, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn N1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ: Bùi Thị B, sinh năm 1984 và con: có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009; tiền sự: không. Tiền án: ngày 29/9/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 08 (T1) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 17/01/2023 chấp hành xong bản án.

Nhân thân:

- Ngày 27/8/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 02/9/2005 chấp hành xong bản án.

- Ngày 09/4/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 16/3/2014 chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 21/7/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến: anh Đặng Vũ Lâm P, sinh năm 2000 và anh Nguyễn Minh T2, sinh năm 1996 - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 21/7/2023, tại khu vực tổ A, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố C bắt quả tang Phạm Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,245gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.

Thu giữ vật chứng: Thu giữ tại túi quần phía sau bên phải của Nhạn: 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng; 01 ví giả da màu nâu; 01 căn cước công dân và 01 chứng minh nhân dân đều mang tên Phạm Văn N; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo vỏ màu tím, lắp 02 sim số 0906.973.748 và 0934.228.324.

Tại bản kết luận giám định số 1070/KL-KTHS ngày 26/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: chất tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,245 gam.

Quá trình điều tra, Phạm Văn N khai nhận: Nhạn bắt đầu sử dụng ma túy “đá” từ năm 2010 đến nay. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên sáng ngày 21/7/2023, N liên lạc qua Z của người tên P1 (không rõ lý lịch, địa chỉ) để hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá”, P1 đồng ý và hẹn đếu khu vực gần nhà nghỉ T3, thuộc phường C, thành phố C để giao dịch. Tại đây, N đưa tiền và lấy 01 túi ma túy của P1, rồi cất vào trong ví, để vào túi quần sau bên phải. Trên đường đi về nhà để sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số: 151/CT-VKSCP ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo: Phạm Văn N từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/7/2023.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng của vụ án.

Người chứng kiến: anh Đặng Vũ Lâm P và anh Nguyễn Minh T2 trong quá trình điều tra đều có lời khai về thời gian, địa điểm và vật chứng thu giữ được phù hợp với lời khai nhận của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
  2. Hành vi của bị cáo, qua tranh tụng tại phiên tòa Phạm Văn N đều thừa nhận: bị cáo sử dụng ma túy “đá” từ năm 2010 đến nay. Sáng ngày 21/7/2023, N liên lạc và mua của P1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 túi ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,245gam, với giá 500.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, N cầm túi ma tuý vừa mua được đi về nhà tại tổ A, khu F, phường C, thành phố C để sử dụng thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ cùng vật chứng.

    Hội đồng xét xử thấy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quy định độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội nên đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 151/CT-VKSCP ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố đối với Phạm Văn N là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

    Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, quy định:

    “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    c) Heroine, C, M... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

  3. Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là chất gây nghiện độc hại, làm cho người nghiện ma túy không còn khả năng làm chủ bản thân, lệ thuộc ma túy về mặt thể chất. Bị cáo là người trưởng thành, biết và nhận thức được tác hại của ma túy, sự nghiêm cấm của Nhà nước nhưng chỉ vì thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống buông thả nên bị cáo bất chấp điều đó, tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm sử dụng, tiếp tay cho tệ nạn ma túy phát triển. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử công khai là cần thiết, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
  4. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, đã có tiền án, chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. Về áp dụng hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm sử dụng, thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  6. Về xử lý vật chứng của vụ án:
    • - 01 (một) Ví giả da màu nâu; 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Văn N; 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Phạm Văn N. Đây là tài sản, giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
    • - 0,19 gam (không phẩy một chín gam) ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định; Vỏ bao gói đã được niêm phong theo đúng quy định. Đây là chất Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
    • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu tím, (thu giữ của Phạm Văn N). Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo sử dụng điện thoại làm phương tiện liên lạc vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
    • - 02 (hai) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim 1 có 4 dãy số: 8401, 2203, 2403, 7922; trên sim 2 có 4 dãy số: 89840, 48000, 07408, 3887 thu giữ của Phạm Văn N. Đây là vật chứng liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  7. Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  8. Liên quan trong vụ án, đối với người tên P1 theo N khai là người bán ma túy cho N, do không xác được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn N: 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/7/2023.

Áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 0,19 gam (không phẩy một chín gam) ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định; Vỏ bao gói đều đựng trong phong bì niêm phong số 1070/KL-KTHS.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim 1 có 4 dãy số: 8401, 2203, 2403, 7922; trên sim 2 có 4 dãy số: 89840, 48000, 07408, 3887 thu giữ của Phạm Văn N.
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu tím (điện thoại thu giữ của Phạm Văn N). Điện thoại đã qua sử dụng, đã cũ.
  • - Trả lại cho bị cáo Phạm Văn N: 01 (một) Ví giả da màu nâu; 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Văn N; 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Phạm Văn N.

(Tình trạng vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số 20/BB-THA, ngày 08/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).

Buộc bị cáo Phạm Văn N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND TP Cẩm Phả;
  • - CCTHADS TP Cẩm Phả;
  • - Bị cáo;
  • - CQCSĐT CA TP Cẩm Phả;
  • - CQ THAHS Công an TP Cẩm Phả;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP Cẩm Phả;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu HS. Lưu VP.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 173/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger