|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 173/2023/HS-ST Ngày 28 - 11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hữu Thỏa và Ông Đậu Cao Nhu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kiều – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 159/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Hồ Văn S (tên gọi khác: Không); sinh năm 2001; nơi sinh: Thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hồ Văn T, sinh năm 1972; con bà Trần Thị S1, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 30/6/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2023 cho đến nay - Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hồ Phi T1, sinh năm 1995 - Vắng mặt.
- Chị Phùng Thị H, sinh năm 1999 - Vắng mặt.
- Ông Văn Đình T2, sinh năm 1967 - Vắng mặt.
- Anh Văn Đình T3, sinh năm 1996 - Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Khu phố S, Phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố S, Phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Người chứng kiến: Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1964 - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 19/8/2023, Hồ Văn S sử dụng điện thoại di động OPPO A55G gắn số thuê bao 0347766456 gọi điện cho một người đàn ông tên L (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) có số cuối thuê bao “852” để hỏi mua 300.000đ tiền ma túy nhưng người này không có nên cho S số thuê bao 0877984027 để mua ma túy. Sau đó, S tiếp tục sử dụng điện thoại của mình gọi đến số thuê bao trên để hỏi mua ma túy thì được người này đồng ý và hẹn đến khu vực xã Q, huyện Q để lấy ma túy.
Sau đó, S mượn của anh Hồ Phi T1 (sinh năm 1995, trú tại thôn C, xã Q, thị xã H) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu cam mang biển kiểm soát 36B1-524.21 rồi điều khiển đến điểm hẹn. Khi đến nơi, S liên lạc với người đàn ông này qua số thuê bao 0877984027 và gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Tại đây, S đưa số tiền 300.000₫ cho người này và được người này chỉ dẫn đến chân cột điện cạnh đường tàu để lấy ma túy. Sau đó, S đến vị trí được chỉ dẫn và tìm thấy 01 chiếc khẩu trang y tế màu trắng đục bên trong có 01 gói nilong trong suốt có chứa 05 viên ma túy dạng hồng phiến nên S cầm ma túy bằng tay trái rồi điều khiển xe mô tô hướng Quốc lộ A để về nhà. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi S đi đến khu vực đường T (thuộc thôn A, xã Q, huyện Q) thì bị Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Q phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, xác định: 05 viên nén màu hồng thu giữ của Hồ Văn S có tổng khối lượng 0,5gam.
Kết luận giám định số 856/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 23/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Hồ Văn S gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng là 0,5gam.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 174/CT-VKS-QL ngày 19/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Hồ Văn S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định tuy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS. Xử phạt Hồ Văn S từ 18 đến 24 tháng tù; không phạt tiền bổ sung.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bưu điện bên trong có chứa 04 viên nén màu hồng, có tổng khối lượng 0,4gam và vỏ giấy, phong bì niêm phong ban đầu.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu đen trong máy lắp thẻ SIM số thuê bao 0377882705 và sim số thuê bao 0792441995 (đang gắn trong máy điện thoại nhãn hiệu OPPO A55G).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A55G màu đen trong máy lắp thẻ SIM1 số thuê bao 0347766456.
Giao cho cơ quan CSĐT Công an huyện Q tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, BKS: 36B1 - 524.21 có số khung RLHHC 12128Y082414, số máy HC12E – 1082485.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Vụ án có tính chất nghiêm trọng, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với sức khoẻ con người và là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh các loại tệ nạn xã hội nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang lập ngày 19/8/2023. Có cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ ngày 19/8/2023, tại khu vực đường tỉnh lộ 537D (thuộc thôn A, xã Q, huyện Q) khi Hồ Văn S đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,5gam ma túy (Methamphetamine) để sử dụng thì bị tổ công tác Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Q phát hiện, bắt quả tang. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS mà Viện kiểm sát đã quy kết là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân và xã hội. Việc sử dụng ma túy sẽ gây mất khả năng lao động, ảnh hưởng đến con cái, suy kiệt giống nòi, làm tiêu hao tiền bạc của bản thân, gia đình. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Ngày 30/6/2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương nhưng bị cáo không coi đó làm bài học để rèn luyện trở thành công dân tốt mà còn phạm tội mới chứng tỏ sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cảm hóa, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo là lao động tự do và bị áp dụng hình phạt tù nên không phạt tiền bổ sung. Việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Theo lời khai của Hồ Văn S, người cho S số thuê bao 0877984027 để liên lạc mua ma túy là người đàn ông tên L. Quá trình điều tra, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Đối với người đàn ông sử dụng số thuê bao 0877984027 là người đã bán ma túy cho S. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ban hành công văn gửi tập đoàn B (V) chi nhánh N cung cấp thông tin của chủ thuê bao, lịch sử các cuộc gọi đến, gọi đi, tin nhắn đi và đến trong ngày 19/8/2023 nhưng đến nay chưa có kết quả. Do vậy cơ quan cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh xử lý sau khi có đủ căn cứ.
Đối với Hồ Phi T1 – là người cho S mượn xe để đi mua ma túy về sử dụng. Qua xác minh hiện nay T1 không có mặt tại địa phương. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ban hành văn bản truy tìm người đối với T1 nhưng chưa có kết quả nên tiếp tục xác minh xử lý sau.
[4] Về vật chứng:
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu cam, BKS: 36B1 - 524.21, đã cũ và qua sử dụng, số khung RLHHC 12128Y082414, số máy HC12E – 1082485, quá trình điều tra đã xác định: Chủ sở hữu là ông Văn Đình T2 (sinh năm 1967, trú tại khu phố S, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa) bị mất trộm vào tháng 6/2023 tại phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã chuyển nguồn tin về tội phạm đến cơ quan cảnh sát điều tra quận Đ. Đồng thời ban hành văn bản thông báo đến cơ quan cảnh sát điều tra quận Đ đề nghị phối hợp xử lý vật chứng là đúng quy định. Do đó cần tiếp tục giao chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu cam, BKS: 36B1 - 524.21, đã cũ và qua sử dụng, số khung RLHHC 12128Y082414, số máy HC12E – 1082485 cho cơ quan điều tra công an huyện Q điều tra, xác minh xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 0,4 gam ma tuý thu giữ của bị cáo đã lấy mẫu giám định hết và võ gói niêm phong ban đầu không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A55G màu đen, số IMEI 1: 860077056466052, số IMEI 2: 860077056466045, trong máy lắp thẻ SIM1 số thuê bao 0347766456 là công cụ phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu đen, số IMEI 1: 351574189891798, số IMEI 2: 356247279891797, trong máy lắp thẻ SIM số thuê bao 0377882705, mã số SIM: 8984048000914440613 và SIM 2 số thuê bao: 0792441995 (đang gắn trong 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A55G màu đen, số IMEI 1: 860077056466052, số IMEI 2: 860077056466045) là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Xử phạt Hồ Văn S phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 19/8/2023.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu 0,4 gam ma tuý thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu giám định và vỏ gói niêm phong ban đầu; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A55G màu đen, số IMEI 1: 860077056466052, số IMEI 2: 860077056466045, trong máy gắn thẻ SIM1 số thuê bao 0347766456; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu đen, số IMEI 1: 351574189891798, số IMEI 2: 356247279891797, trong máy gắn thẻ SIM số thuê bao 0377882705; trả lại cho bị cáo thẻ sim số thuê bao: 0792441995 (đang gắn trong máy điện thoại nhãn hiệu OPPO A55G màu đen, số IMEI 1: 860077056466052, số IMEI 2: 860077056466045). Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận lập ngày 20/10/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Cơ quan điều tra Công an huyện Q tiếp tục điều tra, xác minh xử lý theo quy định của pháp luật 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu cam, BKS: 36B1 - 524.21 có số khung RLHHC 12128Y082414, số máy HC12E – 1082485.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Sỹ Mạnh |
Bản án số 173/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 173/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hồ Văn S
