Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 173/2024/HS-ST

Ngày 26-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Hồng.
  2. Ông Nguyễn Văn Tư.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 158/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tòng Văn V, sinh năm 2004.

Quê quán: Bản É, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Nơi thường trú: Bản É, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Tòng Văn C, sinh năm 1978 và bà Cà Thị N, sinh năm 1984; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

(Có mặt tại phiên tòa)

*Người bào chữa cho bị cáo: Ông Thân Văn D – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.

(Ông D có mặt)

*Bị hại: Anh Cà Văn C1, sinh năm 1998 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của anh C1: Ông Cà Văn T, sinh năm 1976 và bà Lò Thị G, sinh năm 1976; Đều địa chỉ: Bản B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông T, bà G: Anh Cà Văn Q, sinh năm 2000. Địa chỉ: Bản B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

(Ông T, bà G, anh Q đều vắng mặt)

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Tòng Văn C, sinh năm 1978 (Vắng mặt);
  • Cà Thị N, sinh năm 1984 (Vắng mặt);
  • Chị Lường Thị H, sinh năm 2001 (Vắng mặt);

Đều địa chỉ: Bản É, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

*Người làm chứng:

  • Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số C, đường T, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

  • Anh Văn Hữu M, sinh năm 2000; Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 10/2023, Tòng Văn V, sinh năm 2004, trú tại bản É, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên đến làm nhân viên phục vụ tại quán ăn Đ1 ở Lô C, đường L, phường D thành phố B, tỉnh Bắc Giang. V sở hữu chiếc mô tô nhãn hiệu ESPERO biển kiểm soát 27AZ-006.05 và sử dụng làm phương tiện đi lại.

Anh Cà Văn C1, sinh năm 1998, trú tại bản B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên có mối quan hệ gia đình. Mẹ của V là em gái bố của C1. Ngày 24/11/2023, V rủ C1 đến quán ăn Đ1 làm nhân viên và được bố trí ăn ở cùng với V ở tại quán.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 27/11/2023, Tòng Văn V điều khiển xe mô tô biển số 27AZ-006.05 chở anh Cà Văn C1 đi đến quán B thuộc thôn N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và ăn đêm với 2 người bạn của C1. Theo V khai có uống khoảng 7 cốc bia hơi còn C1 uống khoảng 9 cốc bia hơi. Đến khoảng 02 giờ ngày 28/11/2023 sau khi ăn uống xong, V điều khiển xe mô tô chở C1 đến quán K ở thôn N, phường Q, thị xã V hát Karaoke. Tại đây, VC1 tiếp tục uống bia. Hai người uống hết 6 chai bia S.

Đến khoảng 4 giờ cùng ngày, Tòng Văn V điều khiển xe mô tô BKS 27AZ-006.05 chở Cà Văn C1 ngồi sau đi từ quán Karaoke ra đường gom cao tốc Hà Nội - Bắc Giang để đi về phường N, thị xã V mục đích để đi ăn thịt trâu. Khi đi đến cầu vượt Q thì V rẽ phải để đi lên cầu, đi được khoảng 300m thì V thấy bị cảm lạnh nên bảo C1 điều khiển xe chở về quán thì C1 đồng ý. V dừng xe lại để đổi lái. C1 điều khiển xe mô tô BKS 27AZ-006.05 chở V ngồi sau đi theo đường gom cao tốc Hà Nội- Bắc Giang đi về thành phố B. Khi C1 điều khiển xe đi đến gần cầu X, thành phố B thì nhập vào làn đường cao tốc rồi đi sát mép giải phân cách cứng, để đi lên cầu. Do C1 điều khiển xe không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên xe mô tô đã đâm vào dải phân cách bằng bê tông ở giữa đường. Hậu quả làm xe mô tô bị đổ xuống đường. C1 bị ngã xuống mặt đường và chết tại chỗ. V ngã

xuống đường và bị gãy cẳng chân trái, bị chấn thương vùng đầu. Một lúc sau, V gọi điện thoại nói chuyện với ông Tòng Văn C, sinh năm 1978 là bố đẻ V nói về việc C1 điều khiển xe mô tô chở V lao vào giải phân cách. Sau đó, V được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B để cấp cứu, điều trị đến ngày 07/12/2023 thì ra viện.

Phiếu kết quả xét nghiệm hóa sinh máu ngày 30/11/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định: Trong máu của Cà Văn C1 có định lượng E là 238,9mg/dl; Tòng Văn V có định lượng Ethanol là 165,9mg/dl.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Vụ tai nạn xảy ra tại đường C đi Lạng Sơn thuộc thôn S, xã S, thành phố B. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường đôi, có dải phân cách cứng ở giữa. Chiều đường bên phải theo hướng Hà Nội đi Lạng Sơn có mặt đường được trải nhựa, thẳng, phẳng, rộng 09m.

Xe mô tô biển kiểm soát 27AZ - 006.05 đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe hướng đi Hà Nội (ký hiệu 01), tâm trục bánh trước cách mép đường phải 8,4m, tâm trục bánh sau cách mép đường phải 8,1m .

Tại phần bên phải dải phân cách phát hiện dấu vết cày sước dài 9,6 m, điểm đầu vết cách cột biển bảo “Cấm đi ngược chiều" 8,2m, điểm cuối vết cách cột biển báo “Cấm đi ngược chiều" 1,6m. (ký hiệu số 2).

Hệ thống dấu vết cày xước trên mặt đường không liên tục kết thúc tại để chân trước bên trái xe mô tô (ký hiệu số 3), điểm đầu vết cách cách cột biển báo "Cấm đi ngược chiều" là 1,6m, cách mép phải dải phân cách là 0,25m. Diện vết cày sước kích thước 9,3x0,37m.

Dấu vết màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt trên diện 0,72x0,35m (ký hiệu 04). T1 vết cách mép bên phải dải phân cách là 0,3m, cách biển báo "Cấm đi ngược chiều" là 2,1m. Cách vết 4 là 01m mép bên phải dải phân cách là 1,3m phát hiện đệm để chân bằng cao su màu đen của xe mô tô.

Tại dải đất dự trữ trên dải phân cách phát hiện chất màu nâu đỏ đang đông trên diện 0,95x0,65m và 01 chiếc dép nhựa bên phải trên có chữ VIP và 01 khối bê tông kích thước 0,56 x 0,15 x 0,36m (ký hiệu số 5). Vị trí này cách mép phải của dải phân cách là 1,45m, cách biển báo "Cấm đi ngược chiều" là 0,45m.

Tại dải đất dự trữ phát hiện 01 mũ bảo hiểm trên có chữ YODY màu vàng, trên mũ có vết vỡ nhựa (ký hiệu 06). Vị trí này cách biển báo "Cấm đi ngược chiều" là 2,1m, cách mép bên phải dải phân cách là 0,4m.

Tại mặt đường phát hiện 01 mũ bảo hiểm màu đen trên có ký tự “PGL SPORT” (ký hiệu 7). Vị trí này cách điểm đầu của dải phân cách là 0,3m, cách vị trí số 6 là 1,4m.

Tại dải đất dự trữ trên dải phân cách phát hiện hằn lõm đất kích thước 0,45 x 0,14 x 0,04m. Vị trí này cách biển báo "Cấm đi ngược chiều" là 2,95m, cách mép bên phải dải phân cách là 0,5m, chiều của vết hướng Hà Nội-Lạng Sơn. Tại vị trí

cách điểm đầu của vết lõm đất này là 0,9m, cách mép bên phải dải phân cách 0,2m phát hiện khối bê tông kích thước 0,45 x 0,18 x 0,3m (ký hiệu số 8).

Tại mặt khối bê tông phát hiện vết vỡ bê tông kích thước 7x6,5cm; cách mặt đất 0,15cm phát hiện vết vỡ bê tông kích thước 10x6cm.

Trên dấu vết cày sước số 3 hướng về xe mô tô phát hiện mảnh nhựa vỡ kích thước 14x7cm.

Tại dưới để chân sau bên trái của xe phát hiện 01 chiếc dép nhựa bàn chân trái có chữ VIP.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển số 27AZ-006.05; 01 đôi dép nhựa có chữ VIP, 02 mũ bảo hiểm, mảnh nhựa của xe mô tô.

*Kết quả khám nghiệm tử thi Cà Văn C1

* Khám ngoài: Vùng đỉnh phải có vết thương rách da kích thước (0,2x0,2)cm và 01 vết thương vùng đỉnh kích thước (1x0,3)cm. Vùng trán trái sát chân tóc có vết chợt da kích thước (1x1)cm. Thái dương trái sưng nề kích thước (10x8)cm, ở giữa có vết chợt da kích thước (4x1)cm;

Mặt: Hai mắt nhắm tự nhiên, đồng từ giãn; Mũi đọng máu màu đỏ. Tai phải chảy máu màu đỏ. Trán trái và má trái có nhiều vết chợt da trên điện kích thước (12x7)cm. Mi trên mắt trái bầm tím kích thước (3x0,2)cm. Hố mắt phải bầm tím kích thước (4x2)cm. Má phải có vết chợt da kích thước (2x1)cm. Đỉnh mũi và môi trên có nhiều vết chợt da nhỏ trên diện (6x5)cm.

Cổ: Chắc. Không thấy dấu vết thương tích.

Vùng ngực, bụng, lưng, mông: Không thấy dấu vết thương tích;

Tay phải: Mặt sau cổ tay phải và mu bàn tay phải có đám chợt da bầm tím kích thước (15x5)cm; Tay trái: Không thấy dấu vết thương tích;

Tay trái, chân phải, chân trái: Không thấy dấu vết thương tích.

Khám kỹ bên ngoài không phát hiện tổn thương nào khác.

Khám trong: Sọ não: Bộc lộ da đầu thấy tụ máu tổ chức dưới da vùng trán đỉnh thái dương hai bên kích thước (30x16)cm. Vỡ sập xương sọ vùng trán đỉnh kích thước (20x12)cm. Qua diện vỡ xương có nhiều tổ chức não dập nát lẫn máu chảy ra ngoài và tổ chức não dập nát trong hộp sọ.

* Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển số 27AZ-006.05

Đầu tay nắm bên phải có vết mài sát kim loại bám dính bụi đường, chiều hướng từ trước về sau kích thước (3 x0,5 )cm; cánh yếm bên trái có vết nứt vỡ nhựa dài 21 cm, tâm vết cách đất 85cm. Mặt ngoài cánh yếm bên trái có nhiều vết mài sát nhựa kích thước (73 x 16) cm.

Cần số bị cong chùn từ ngoài vào trong, từ dưới lên trên. Để chân trước bên trái bị khuyết ốp nhựa cao su, đầu để chân trước có vết mài sát cao su. Mặt ngoài bên trái lốc máy, tại vị trí cách đất 21 cm, có vết mài sát kim loại kích thước (8 x4) cm.

Mặt ngoài thanh kim loại bảo vệ yên xe bên trái, tại vị trí thấp nhất cách đất 69 cm, có vết mài sát kim loại, bám dính bụi đất trên diện (4 x 1) cm.

Yên xe bên trái tại vị trí tâm vết cách đất 73 cm, có vết rách khuyết phần vỏ yên trên diện (14 x 5) cm. Đầu giảm xóc phía trước bên trái có vết mài sát kim loại từ trước về sau kích thước (2 x 1)cm.

Má lốp bên trái bánh trước có vết mài sát cao su sạch bụi kích thước 27 x 2cm.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân chết của anh Cà Văn C1 và trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông; giám định ADN trên tay nắm xe mô tô BKS 27AZ - 006.05.

Kết luận giám định tử thi số 4694/KLGĐTT-TTPY ngày 04/12/2023 của Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

Nguyên nhân chết của Cà Văn C1: Chết do Chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, chảy máu nội sọ, dập não do tai nạn giao thông.

Kết luận giám định số 238/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:

1. Dấu vết chùn cong kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá) ở giảm sóc trước bên trái, cần số, để chân trước bên trái và dấu vết trượt xước sơn nhựa, hướng từ trước ra sau ở đầu dưới cánh yếm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 27AZ - 006.05 (ảnh 5, 11, 12, 22, 23 trong bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng không nhẫn. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình xe mô tô chuyển động, mài trượt với mặt ngoài dải phân cách cứng tạo nên dấu vết ký hiệu số 2 (trên hiện trường đây là vị trí va chạm đầu tiên, ảnh 8, 13, 14, 15 bản ảnh khám nghiệm hiện trường).

Dấu vết mài trượt kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá) ở bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 27AZ - 006.05 gồm: Đầu ngoài tay nắm, để chân trước, tay xách (ánh số 13, 18, 19, 20 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng không nhẫn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 27AZ - 006.05 đổ nghiêng trái, văng trượt trên mặt đường tạo nên hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 3.

Dấu vết gãy khuyết, trượt sước sơn, nhựa bám dính chất màu trắng (dạng sơn), hướng từ trước ra sau ở đầu chắn bùn trước của xe mô tô biển kiểm soát 27AZ - 006.05 (ảnh số 15, 16 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng không nhẫn (như vị trí dải phân cách cứng sơn màu vàng tại điểm đầu vết cày xước ký hiệu số 3).

2. Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 27AZ - 006.05 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Kết luận giám định số 9181/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của V1 - Bộ C2 kết luận:

Không phát hiện thấy ADN người trên chiếc tay nắm xe (ký hiệu M3) gửi giám định.

Cơ quan điều tra đã thu giữ và trưng cầu giám định 03 file video được trích xuất tại camera của Công ty cổ phần C3, phường Q, thị xã V và tại quán K2 có liên quan đến vụ án.

Kết luận giám định số 355/KL-KTHS ngày 07/2/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:

Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 file video được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.

Cơ quan điều tra cho bị can Tòng Văn V quan sát các file video. Kết quả, V xác định có hình ảnh V điều khiển xe chở C1 đi từ quán K2 ra ngoài đường.

Quá trình điều tra, bị can V khai nhận hành vi giao xe mô tô biển số 27AZ-006.05 cho Cà Văn C1 điều khiển trong tình trạng 2 người đã sử dụng bia dẫn đến tai nạn giao thông làm anh C1 chết như nêu trên.

Ngày 15/5/2024, Cơ quan điều tra đã cho Tòng Văn V thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả V xác định vị trí giao xe mô tô biển số 27AZ-006.05 cho Cà Văn C1 điều khiển tại đoạn đường thuộc tổ dân phố N, phường N, thị xã V cách chân cầu vượt Q khoảng 300m. V thực hiện động tác dừng xe lại, 2 người xuống xe. V bảo C1 điều khiển xe. C1 điều khiển xe mô tô còn V ngồi sau đi đến gần cầu X thì xảy ra tai nạn. Bị can V thực hiện thuần thục các động tác giao xe cho anh C1 điều khiển như đã khai.

Đối với Tòng Văn V bị thương được cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B đến ngày 07/12/2023 thì ra viện. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định để xác định tỷ lệ thương tích của V.

Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể sống số 2453 ngày 18/7/2024 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

- Tòng Văn V bị thương tích là 47%. Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên.

- Không xác định được vị trí và dạng vết thương của Tòng Văn V có phù hợp với việc C1 là người điều khiển xe chở V ngồi sau hay không.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo V đã bồi thường cho gia đình anh C1 5.000.000 đồng. Anh Cà Văn Q, sinh năm 2000 (em trai anh C1) là người được uỷ quyền của đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng chiếc xe mô tô biển số 27AZ-006.05; chiếc tay nắm xe mô tô; 01 đôi dép nhựa có chữ VIP, 02 mũ bảo hiểm, mảnh nhựa của xe mô tô để xử lý theo quy định.

*Tại Bản cáo trạng số 160/CT-VKS ngày 05 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Tòng Văn V

về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.

*Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.

*Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Những người tham gia tố tụng tại phiên toà nhất trí và không có ý kiến gì.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, s,i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày UBND xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo V cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Miễn áp dụng khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Trả lại bị cáo chiếc xe mô tô biển số 27AZ-006.05;

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc tay nắm xe mô tô, 01 đôi dép nhựa có chữ VIP, 02 mũ bảo hiểm, mảnh nhựa của xe mô tô.

- Về án phí: Áp dụng Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo ông Thân Văn D nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo tuổi còn trẻ, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ để bị cáo có cơ hội cải sửa bản thân.

Bị cáo nhất trí ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ nguyên quan điểm đã trình bày.

Bị cáo nhận thức được hành vi của bản thân là sai, xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội cải sửa bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện họp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Tòng Văn V sở hữu chiếc xe mô tô biển số 27AZ-006.05. Buổi tối ngày 27/11/2023, V điều khiển xe mô tô chở anh họ là Cà Văn C1, sinh năm 1998, trú tại bản B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện đến thôn N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang uống bia sau đó đến quán K ở thôn N hát Karaoke và tiếp tục uống bia. Đến khoảng 4 giờ cùng ngày, V điều khiển xe mô tô biển số 27AZ-006.05 chở C1 ra về. Khi đi đến đường G Hà Nội - Bắc Giang cách cầu vượt Q khoảng 300m thì V dừng xe lại và bảo C1 điều khiển xe. C1 điều khiển xe mô tô BKS 27AZ-006.05 chở V ngồi sau đi đến gần cầu X, thành phố B thì đâm vào dải phân cách bằng bê tông ở giữa đường. Hậu quả làm C1 bị chết tại chỗ. Tòng Văn V biết rõ Cà Văn C1 đã sử dụng bia nhưng vẫn giao cho C1 điều khiển xe mô tô dẫn đến xảy ra tai nạn làm anh C1 chết, vi phạm khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ nên phải chịu trách nhiệm về hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm sức khoẻ của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội và tâm lý hoang mang cho người tham gia giao thông. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có nhân thân, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ

thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau tai nạn, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên có cơ sở áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo. Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận. Đồng thời, do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bản thân không có công việc ổn định, không có thu nhập nên cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Trả lại bị cáo chiếc xe mô tô biển số 27AZ-006.05 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo;
  • Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc tay nắm xe mô tô, 01 đôi dép nhựa có chữ VIP, 02 mũ bảo hiểm, mảnh nhựa của xe mô tô do đều không còn giá trị sử dụng.

[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự,

Áp dụng khoản 1 Điều 292, Điều 293, khoản 2 và khoản 3 Điều 106, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo Tòng Văn V 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày UBND xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản

án. Giao bị cáo V cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

2. Về vật chứng:

  • Trả lại bị cáo chiếc xe mô tô biển số 27AZ-006.05;
  • Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc tay nắm xe mô tô, 01 đôi dép nhựa có chữ VIP, 02 mũ bảo hiểm, mảnh nhựa của xe mô tô

3. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - UBND x.Quài Tở, h.Tuần Giáo, Điện Biên.
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Số: 32/2024/TB-TA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bắc Giang, ngày 17 tháng 9 năm 2024

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 178/2024/HS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang do có lỗi chính tả, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

Về nội dung tại dòng 25 từ trên xuống dưới của trang 07 và dòng thứ 11 của trang 10 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày UBND xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.”.

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Điện Biên nhận được Quyết định thi hành án.”.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - UBND x.Quài Tở, h.Tuần Giáo, Điện Biên.
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 173/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn V Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger