Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 173/2024/HS-ST

Ngày: 23/8/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Liên.
  2. Ông Vũ Anh Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 169/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Minh G, sinh năm 1969; căn cước công dân số [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Lê Trung C (Đã chết); con bà: Cao Thị T; gia đình có 04 anh chị em; vợ: Trần Thị H, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 15 tháng 5 năm 2024, chuyển tạm giam ngày 24 tháng 5 năm 2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Đặng Quang T1; anh Trần Văn Đ (Không triệu tập tới phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, tổ công tác Công an phường N, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà A đường T, phường L, thành phố N phát hiện Lê Minh G điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1-824.39 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. G thả từ tay phải xuống đất 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (G khai Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Minh G. Ngoài ra, tạm giữ của G 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirus, biển kiểm soát 18B1-824.39, đã cũ.

Bản kết luận giám định số 925/KL-KTHS ngày 22/5/2024 Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu vàng, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine (H). Khối lượng mẫu: 0,126 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Minh G khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 15/5/2024, G điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1-824.39 từ nhà mẹ đẻ tại địa chỉ số D đường Đ, phường L, thành phố N đến khu vực Đền T3, thành phố N gặp 01 người đàn ông (Không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 50.000 đồng H1, G cầm gói ma túy trong tay phải, điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì phát hiện, bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 173/CT-VKS-TPNĐ ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Lê Minh G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Lê Minh G xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Minh G theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Minh G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Minh G có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng; bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh N và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, tại khu vực trước cửa số nhà A đường T, phường L, thành phố N, Lê Minh G đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,126 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo:

[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, cần ấn định cho bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn như Viện kiểm sát đề nghị trong khung đã truy tố để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy trong phong bì niêm phong số 925/KL-KTHS ngày 22/5/2024 là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Minh G hiện tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-824.39 là tài sản của ông Trần Tư B, sinh năm 1969, địa chỉ số E đường Q, phường Q, thành phố N. Ông B không biết G mượn xe máy đi mua ma túy sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại xe cho ông B là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo Lê Minh G bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Minh G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Minh G 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ 15 tháng 5 năm 2024.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 925/KL-KTHS ngày 22/5/2024 (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/8/2024 giữa Công an thành phố N và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Minh G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Minh G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Toà án ND. Tỉnh Nam Định;
  • - Viện kiểm sát NDTP.Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP.Nam Định;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP.Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Nguyên

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ......... giờ ......... phút ngày 23 tháng 8 năm 2024.

Tại: Phòng nghị án, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức N.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị L; ông Vũ Anh T2.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 169/2024/TLST-HS ngày 08/8/2024 đối với:

Bị cáo: Lê Minh G, sinh năm 1969; căn cước công dân số [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật;

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, không thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Phần biểu quyết: Bà Trần Thị L: Nhất trí; ông Vũ Anh T2: Nhất trí; ông Nguyễn Đức N: Nhất trí.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

2. Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều phù hợp với vụ án và các quy định của pháp luật tố tụng. Quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Phần biểu quyết: Bà Trần Thị L: Nhất trí; ông Vũ Anh T2: Nhất trí; ông Nguyễn Đức N: Nhất trí.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

3. Có hay không có căn cứ kết tội bị cáo: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Phần biểu quyết: Bà Trần Thị L: Nhất trí; ông Vũ Anh T2: Nhất trí; ông Nguyễn Đức N: Nhất trí.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

4. Nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Phần biểu quyết: Bà Trần Thị L: Nhất trí; ông Vũ Anh T2: Nhất trí; ông Nguyễn Đức N: Nhất trí.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

5. Hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xử phạt bị cáo Lê Minh G 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ 15 tháng 5 năm 2024; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Phần biểu quyết: Bà Trần Thị L: Nhất trí; ông Vũ Anh T2: Nhất trí; ông Nguyễn Đức N: Nhất trí.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

6. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 925/KL-KTHS ngày 22/5/2024 (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/8/2024 giữa Công an thành phố N và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định).

Phần biểu quyết: Bà Trần Thị L: Nhất trí; ông Vũ Anh T2: Nhất trí; ông Nguyễn Đức N: Nhất trí.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

7. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Minh G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Phần biểu quyết: Bà Trần Thị L: Nhất trí; ông Vũ Anh T2: Nhất trí; ông Nguyễn Đức N: Nhất trí.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

8. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Minh G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Phần biểu quyết: Bà Trần Thị L: Nhất trí; ông Vũ Anh T2: Nhất trí; ông Nguyễn Đức N: Nhất trí.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

Nghị án kết thúc vào hồi ........ giờ .........phút, ngày 23 tháng 8 năm 2024.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 173/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Minh G
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger