|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 173/2024/DS-PT
Ngày 23 tháng 4 năm 2024
V/v. tranh chấp tài sản thừa kế; yêu cầu
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất; yêu cầu tuyên bố văn bản phân
chia tài sản thừa kế vô hiệu; tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Hải Hiệp.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển;
Ông Nguyễn Phan Nam.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tú Anh, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 341/2023/TLPT-DS ngày 31 tháng 08 năm 2023 về việc “Tranh chấp tài sản thừa kế; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia tài sản thừa kế vô hiệu; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, do có kháng cáo của nguyên đơn là anh Lâm Văn X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lâm Văn T đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2022/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4359/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Lâm Văn X, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Đắc T1, thuộc Công ty L3, Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.
* Bị đơn: Chị Lâm Thị T2, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Ông Lâm Văn T, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Chị Lâm Thị L, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Lưu Văn T3, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Ông Lưu Minh T4, sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Bà Lưu Thị N, sinh năm 1965, địa chỉ: Thôn C, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Ông Lưu Văn S, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Ông Lưu Văn B, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Bà Lưu Thị T5, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn Y, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Bà Lưu Thị C, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn X, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Bà Lưu Thị M, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Bà Lưu Thị L1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Bà Lưu Thị C1, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Anh Kiều Văn T6, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn G, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn G, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Chị Lý Thị T7, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V; do ông Nguyễn Thành H - Phó giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V làm đại diện. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tiến M1- Công chứng viên Văn phòng C4. Vắng mặt.
- Văn phòng C4; địa chỉ: Khu đô thị H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; do ông Nguyễn Điều L2 - Trưởng văn phòng làm đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; do bà Lâm Thanh H1 - Quyền Chủ tịch UBND xã H làm đại diện. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Đặng Văn T8, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lâm Văn T: Luật sư Nguyễn Đắc T1 thuộc Công ty L3, Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Kiều Văn T6 và chị Nguyễn Thị Á: Luật sư Hoàng Kim N1 thuộc Văn phòng L4, Đoàn Luật sư tỉnh V. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/5/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 20/12/2021 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là anh Lâm Văn X trình bày: Vợ chồng ông Lâm Văn T và bà Lưu Thị B1 có ba người con là anh (Lâm Văn X), chị Lâm Thị T2, chị Lâm Thị L. Khi bà B1 còn sống, ông T, bà B1 tạo lập được hai thửa đất mỗi thửa 300m², vị trí liền nhau, địa chỉ tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông T, bà B1 thống nhất mỗi người đứng tên một thửa đất, bà B1 đứng tên thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07. Năm 2010 thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà B1 đối với thửa đất số 84 đã làm xong chỉ còn chờ thời gian ra giấy thì ngày 24/01/2010 bà B1 chết do tai nạn giao thông không để lại di chúc. Do không thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đã chết và sau khi ông T được hướng dẫn hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất số 84, gia đình anh gồm anh, ông T và chị T2, chị L đã thống nhất để cho chị T2 đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 84. Sau khi thống nhất ông T là người đi làm thủ tục có đem văn bản về và đề nghị 03 con là anh, chị T2 và chị L ký vào văn bản chia tài sản thừa kế (đã được soạn sẵn) với nội dung cho chị T2 đứng tên thửa đất số 84. Sau đó ông T đưa văn bản chia thừa kế lên UBND xã H chứng thực ngày 22/3/2010. Thực tế, các thành viên trong gia đình từng người ký văn bản mà không có cuộc họp gia đình. Anh ký vào biên bản nhưng không đọc nội dung, cũng không được ai đọc cho nghe. Thời điểm bà B1 chết, bố mẹ bà B1 là cụ Trần Thị M2 và cụ Lưu Bội T9 còn sống. Trong văn bản đó có chữ ký “Chu Thị M3” nhưng đó không phải chữ ký của cụ M3 vì cụ M3 không biết chữ, chữ ký trong văn bản chia thừa kế là “Chu Thị M3” nhưng tên cụ là “Trần Thị M2”. Cụ Lưu Bội T9 chết ngày 16/02/2010, cụ Trần Thị M2 chết ngày 10/3/2014. Cụ T9 và cụ M2 chết không để lại di chúc. Việc cho chị T2 đứng tên chỉ làm thủ tục để hợp thức để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không phải cho chị T2 toàn bộ thửa đất trên. Trong 300m² của thửa số 84 có 150m² là tài sản của ông T, 150m² là tài sản của bà B1. Trước khi cho chị T2 đứng tên ý định của ông T là chia thửa đất số 84, diện tích 300m² làm
03 phần, cho ông T, anh mỗi người 100m², chị T2 và chị L chung nhau 100m². Anh nhất trí với nội dung chia của ông T, việc chia trên không lập văn bản mà chỉ do ông T nói. Việc ông T nói chia tài sản làm 03 phần như trên có ông Lâm Thanh H1 - Cán bộ tư pháp năm 2010 (nay là Phó chủ tịch xã) và ông Lâm Văn T10 - Trưởng thôn Núc Hạ năm 2010 và ông Hoàng Trân Q- Cán bộ địa chính năm 2010 được biết. Ngoài ra không có văn bản nào thể hiện việc chia tài sản trên. Khi ông T chia tài sản làm 03 phần chỉ có mặt chị T2, không có mặt chị L.
Biên bản phân chia thừa kế được UBND xã H chứng thực ngày 22/3/2010 không phải là văn bản chia di sản thừa kế mà chỉ là văn bản hợp thức để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó ông T không xin chữ ký của cụ M2 mà nhờ hàng xóm ký hộ. Sau khi chị T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T là người nhận giấy và quản lý giấy. Cuối năm 2010 anh đã làm nhà cấp 4 vào phần diện tích mà ông T dự kiến cho anh. Ban đầu anh xác định nhà cấp 4 là tài sản riêng của anh, nhưng tạo dựng tài sản này có công sức của anh và vợ anh là Lý Thị T7 nên đó là tài sản chung của vợ chồng. Chị T7 đã được thông báo ngày mở phiên tòa nhưng do bận đi làm nên chị T7 không tham gia phiên tòa được. Thửa đất số 84 là tài sản của bố mẹ anh nên mọi yêu cầu do anh quyết định. Ông T cũng làm nhà cấp 4 vào toàn bộ phần diện tích đất còn lại. Khoảng năm 2019 chị T2 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 84 cho anh Kiều Văn T6 và chị Nguyễn Thị Ánh . Việc chuyển nhượng trên là không hợp pháp vì thửa đất ông T dự kiến chia cho 03 anh chị em (chị T2 chỉ đại diện đứng tên) nhưng khi chuyển nhượng chị T2 tự quyết định, không được sự đồng ý của anh và ông T nên việc chuyển nhượng là trái quy định của pháp luật. Sau khi chị T2 chuyển nhượng cho anh T6 thì chị Á là vợ anh T6 có đến gặp anh và ông T, để yêu cầu anh và ông T tháo dỡ công trình trên đất để trả lại mặt bằng. Lúc đó anh mới biết việc chuyển nhượng và anh khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị T2, tuy nhiên Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã đình chỉ giải quyết vụ án do hết thời hiệu khởi kiện. Nay anh khởi kiện yêu cầu Tòa án:
- Tuyên bố văn bản chia thừa kế do UBND xã H chứng thực ngày 22/3/2010 vô hiệu.
- Tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất giữa chị Lâm Thị T2 và anh Kiều Văn T6, chị Nguyễn Thị Á được công chứng ngày 04/4/2019 đối với việc chuyển nhượng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07 vô hiệu.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành BA733097, số vào sổ CH 00035/QSDĐ ngày 14/5/2012, chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, diện tích 300m² tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên Lâm Thị T2 (giấy chứng nhận ngày 14/5/2010) và quyết định hành chính liên quan là Quyết định số 380/QĐ-UBND ngày 14/5/2010 của UBND huyện T về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cùng nội dung xác nhận đăng ký biến động chuyển nhượng cho anh Kiều Văn T6 và chị Nguyễn Thị Á ngày 22/6/2020 của Văn phòng Đ chi nhánh T12.
- Chia thừa kế theo pháp luật đối với phần tài sản của bà B1 là 150m² đất tại
thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07. Hàng thừa kế thứ nhất của bà B1 có 6 người gồm anh, ông T, chị T2, chị L, cụ M2, cụ T9. Mỗi người được hưởng 25m²; phần của anh, ông T, cụ M2, cụ T9 đề nghị giao cho anh là 100m², còn chị T2 và chị L mỗi người 25m². Anh chịu án phí và chi phí tố tụng đối với phần được chia, nếu những người thừa kế của cụ M2 và cụ T9 có yêu cầu thì đề nghị xem xét sau đối với kỉ phần được giao và án phí. Ngoài đề nghị chia tài sản thừa kế nêu trên anh không đề nghị chia tài sản thừa kế nào khác.
Bị đơn chị Lâm Thị T2 trình bày: Về nguồn gốc thửa đất số 84 và quá trình sử dụng, quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời gian bà B1 chết, cụ M2 chết, cụ T9 chết như anh X trình bày là đúng. Khi bà B1 chết không để lại di chúc, lúc đó mẹ đẻ của bà B1 là cụ Trần Thị M2 và cụ Lưu Bội T9 còn sống. Sau khi bà B1 chết gia đình chị gồm ông T, chị, anh X và chị L họp phân chia di sản thừa kế của bà B1, tất cả đều thống nhất cho chị toàn bộ thửa đất số 84. Ông T lập văn bản chia tài sản thừa kế và trong văn bản có chữ ký của cụ M2 nhưng đó có phải chữ ký thật của cụ M2 hay không thì chị không biết vì theo chị cụ M2 không biết chữ. Ông T, anh X, chị và chị L đã ký vào biên bản phân chia tài sản thừa kế, được UBND xã H chứng thực ngày 22/3/2010. Ông T, anh X, chị L đều thống nhất cho chị toàn bộ thửa đất trên bao gồm cả phần đất của ông T là 150m² và 150m² là di sản thừa kế của bà B1. Sau đó ông T làm thủ tục và chị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/5/2010. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND xã H giao. Năm 2012 do chị và ông T mâu thuẫn nên ông T khiếu nại đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho chị, chị cũng làm đơn đề nghị UBND xã H yêu cầu ông T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND huyện T đã ra Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị. Chị tiếp tục khiếu nại, năm 2014 UBND huyện T đã ra Quyết định hủy bỏ Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị. Do vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị là hợp pháp. Năm 2014, ông T khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo đề nghị chia thừa kế thửa đất số 84, nhưng sau đó rút đơn khởi kiện nên năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Đến ngày 04/4/2019, chị và anh Kiều Văn T6, chị Nguyễn Thị Á ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 84, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C4. Thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng các bên không có tranh chấp. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng anh X khởi kiện vụ án hành chính đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Do yêu cầu khởi kiện của anh X hết thời hiệu khởi kiện nên Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã đình chỉ giải quyết vụ án ngày 28/02/2020. Ngày 27/4/2020 anh T6, chị Á yêu cầu Văn phòng Đ chi nhánh T12 đăng ký biến động đất đai. Ngày 22/6/2020, Văn phòng Đ chi nhánh T12 xác nhận thông tin thay đổi trong giấy chứng nhận là: “Chuyển nhượng cho ông Kiều Văn T6 và vợ là bà Nguyễn Thị Á”. Chị xác định thửa đất số 84 là tài sản chung của ông T và bà B1, nên trong đó có 150m² là của ông T và 150m² là của bà B1 là di sản thừa kế. Sau khi bà B1 chết, anh Lâm Văn X được ông T cho 01 thửa đất trong làng, nguồn
gốc thửa đất là của ông cha để lại; địa chỉ thửa đất tại thôn N, xã H, diện tích khoảng 1.000m², chị không biết số tờ, số thửa, hiện nay anh X đang sử dụng. Ông T, anh X cho rằng khi bà B1 chết, mọi người trong gia đình thống nhất làm văn bản đứng tên chị chỉ để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng và không có việc ông T nói chia cho ông T, anh X mỗi người 1/3; chị và chị L chung nhau 1/3. Nay anh X khởi kiện đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị, đã được điều chỉnh sang tên anh T6, chị Á ngày 22/6/2020; Tuyên văn bản phân chia tài sản thừa kế ngày 22/3/2010 vô hiệu; tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị và anh T6, chị Á vô hiệu và chia tài sản thừa kế của bà B1 là thửa đất số 84 theo quy định của pháp luật, chị không đồng ý. Vì đó là tài sản của chị và chị đã chuyển nhượng cho anh T6, chị Á hợp pháp và ngay tình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Đại diện UBND huyện T trình bày: Về trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ 07; địa chỉ tại xã H, huyện T cho chị Lâm Thị T2: Sau khi UBND xã H hoàn thiện đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 84 đã chuyển toàn bộ hồ sơ lên bộ phận một cửa thuộc UBND huyện T để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 02/4/2010, bộ phận một cửa UBND huyện T vào sổ tiếp nhận hồ sơ (quyển số 1, số thứ tự 219) và chuyển cho Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất để thẩm tra tính hợp pháp của hồ sơ và điều kiện cấp giấy. Sau khi thẩm tra, hồ sơ được chuyển cho Chi cục thuế huyện T để xác định nghĩa vụ tài chính và ra thông báo nộp thuế cho người sử dụng đất. Sau khi người sử dụng đất thực hiện xong nghĩa vụ tài chính thì Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện thủ tục ban hành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi chuyển lên Phòng T13 thẩm định lại, lập tờ trình trình lãnh đạo UBND huyện T ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Lâm Thị T2 với thửa đất số 84, tờ bản đồ 07; địa chỉ tại xã H, huyện T là đúng trình tự và hợp pháp.
Về quá trình sử dụng đất: Gia đình ông Lâm Văn T đã xây dựng công trình và hiện nay đang ở trên đất. Năm 2010, bà Lưu Thị B1 là mẹ đẻ chị T2 chết do tai nạn giao thông và không để lại di chúc, cùng năm đó ông T lập văn bản chia tài sản thừa kế, thống nhất để lại cho chị Lâm Thị T2 được thừa kế toàn bộ thửa đất (có chứng thực của UBND xã H); ông T là người trực tiếp đi làm giấy tờ và đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Lâm Thị T2. Tại Quyết định số 380/QĐ-UBND ngày 14/5/2010, UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Lâm Thị T2.
- Ông Lâm Văn T trình bày: Ông thống nhất với nội dung trình bày của anh X. Ông bổ sung một số nội dung sau: Sau khi bà B1 chết ông được hướng dẫn là làm văn bản chia thừa kế nên ông đem văn bản chia thừa kế về và đề nghị anh X, chị T2 và chị L ký vào Văn bản chia tài sản thừa kế (đã được soạn sẵn). Còn chữ ký của cụ
M2 ông nhờ người khác ký hộ. Sau khi đủ chữ ký ông đưa văn bản lên và được UBND xã H chứng thực ngày 22/3/2010. Ông lấy chữ ký của từng thành viên, thực chất không có cuộc họp gia đình. Mặc dù, nội dung văn bản cho chị T2 đứng tên toàn bộ thửa đất số 84, nhưng ông có ý định chia thửa đất số 84 làm 03 phần, cho ông, anh X mỗi người 1/3 cho chị T2 và chị L chung nhau 1/3. Việc ông có ý định chia tài sản thừa kế làm 03 phần như trên có ông Lâm Thanh H1 - Cán bộ tư pháp năm 2010 (nay là Phó chủ tịch xã) và ông Lâm Văn T10 - Trưởng thôn Núc Hạ năm 2010 và ông Hoàng Trân Q - Cán bộ địa chính năm 2010 được biết vì những người này được nghe ông nói. Khi ông nói chia tài sản làm 03 phần chỉ có mặt chị T2, không có mặt chị L. Văn bản chia tài sản thừa kế được UBND xã H chứng thực ngày 22/3/2010 không phải là văn bản chia di sản thừa kế mà chỉ là văn bản hợp thức để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó ông không xin chữ ký của cụ M2 mà nhờ hàng xóm ký hộ. Toàn bộ quá trình làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị T2 do ông làm và ông là người nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc chị T2 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 84 cho anh Kiều Văn T6 và chị Nguyễn Thị Á như thế nào ông không biết. Quá trình thu thập chứng cứ trong lời khai và biên bản hòa giải ông có quan điểm là diện tích đất đang tranh chấp là tài sản thừa kế của bà B1, ông đề nghị chia cho ông và anh X mỗi người 100m², chị T2 và chị L chung nhau 100m² nhận bằng đất. Ông tự nguyện thanh toán bằng tiền cho các con của cụ M2, cụ T9 là những người thừa kế của cụ M2, cụ T9 đối với phần thừa kế các con của cụ M2, cụ T9 được hưởng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T thay đổi quan điểm ông xác định thửa đất số 84 là tài sản chung của ông và bà B1, nên 150m² là tài sản của ông, còn 150m² là di sản thừa kế của bà B1. Đề nghị Tòa án chia thừa kế di sản của bà B1 cho 6 thừa kế gồm ông, anh X, chị L, chị T2, cụ M2, cụ T9 mỗi thừa kế là 25m². Cụ T9, cụ M2 đều đã chết, những người con của cụ T9, cụ M2 đều đề nghị giao cho anh X phần thừa kế của cụ M2, cụ T9. Như vậy, kỉ phần của ông, anh X, cụ M2, cụ T9 là bốn phần là được 100m². Đề nghị giao hết cho anh X, đối với phần của cụ M2, cụ T9 chưa được chia trong vụ án này, sau này nếu có ai có yêu cầu chia thì sẽ xem xét bằng vụ án khác. Trên thửa đất số 84 hiện nay ông có xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 từ khoảng tháng 7 năm 2010 vào 1/3 diện tích đất. Ông đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh X.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/6/2020 chị Lâm Thị L trình bày: Ông Lâm Văn T và bà Lưu Thị Ba s được ba người con là Lâm Văn X, Lâm Thị L và chị là Lâm Thị T2. Ngày 24/01/2010 bà Lưu Thị B1 chết do tai nạn giao thông không để lại di chúc. Sau khi bà B1 chết ông Lâm Văn T tiến hành họp gia đình gồm ông T, anh X, chị T2 và chị thống nhất lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế của bà B1 có nội dung như sau:
Khi còn sống bà B1 và ông T có mua lại một thửa đất tại tờ bản đồ số 07, thửa đất số 84, diện tích 300m² đất ở của hộ gia đình ông Diệp Văn M4 và bà Đặng Thị N2 ở thôn N, xã H. Khi mua, mảnh đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 24/01/2010 bà B1 chết do tai nạn giao thông không để
lại di chúc. Vì vậy, gia đình tiến hành họp và thống nhất: Để lại cho bà Lâm Thị T2, sinh năm 1988, tổng diện tích đất là 300m² đất ở, tại tờ bản đồ số 07, thửa đất số 84. Sau khi họp gia đình đã đi đến thống nhất không ai có ý kiến gì khác, vì vậy đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
Sau đó bố chị đi làm toàn bộ thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị Lâm Thị T2. Khi bà Lưu Thị B1 chết, bố đẻ bà B1 là cụ Lưu Bội T9 và mẹ đẻ của bà B1 là cụ Trần Thị M2 còn sống. Sau đó cụ T9 chết, chị không nhớ ngày tháng, cụ T9 có để lại di chúc hay không chị không biết. Đến ngày 22/02/2010 gia đình chị họp bàn lập văn bản chia thừa kế, khi đó cụ M2 còn sống không tham gia họp. Sau đó, cụ M2 có ký vào văn bản chia thừa kế hay không chị không biết. Đến ngày 20/3/2014 cụ M2 chết, cụ M2 có để lại di chúc hay không chị không nắm được. Nay anh X khởi kiện chị không có ý kiến gì. Đối với phần thừa kế chị được hưởng của bà B1 chị đã tặng cho chị T2, chị giữ nguyên quan điểm không thay đổi.
- Ông Lưu Văn T3, ông Lưu Văn S, ông Lưu Văn B, bà Lưu Thị N, bà Lưu Thị L1, bà Lưu Thị T5, bà Lưu Thị C, bà Lưu Thị M, bà Lưu Thị C1, đều vắng mặt tại phiên tòa. Trong các biên bản lấy lời khai đều trình bày: Các ông bà là con của cụ Lưu Bội T9 và cụ Trần Thị M2. Cụ T9 và cụ M2 có 10 người con là: Lưu Văn T3, Lưu Thị B1, Lưu Văn N3, Lưu Văn S, Lưu Văn B, Lưu Thị T5, Lưu Thị C, Lưu Thị M, Lưu Thị L1, Lưu Thị C1. Trước khi cụ T9 lấy cụ Trần Thị M2 thì cụ T9 còn có một người vợ cả tên là C2, cụ T9 và cụ C2 có một người con là Lưu Minh Trần .1 Sau khi cụ C2 chết thì cụ T9 lấy cụ Trần Thị M2. Cụ Lưu Bội T9 chết ngày 16/02/210, cụ Trần Thị M2 chết ngày 20/3/2014; cụ T9 và cụ M2 chết không để lại di chúc, bà Lưu Thị B1 chết ngày 24/01/2010 do tại nạn giao thông không để lại di chúc. Về thửa đất anh X và chị T2 đang tranh chấp, các ông bà không biết thông tin gì. Khi gia đình anh X họp bàn để lập văn bản chia tài sản thừa kế của bà B1 các ông bà không tham gia, cũng không chứng kiến và không biết thông tin gì. Việc cụ M2 có tham gia họp bàn và ký vào văn bản chia di sản thừa kế của bà B1 cho chị Lâm Thị T2 hay không các ông bà không nắm bắt được, chỉ biết cụ M2 không biết chữ.
Nay Lâm Văn X khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với quyền sử dụng 300m² đất tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là Lâm Thị T2 và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, diện tích 300m² tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên chị Lâm Thị T2, các ông bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu được hưởng một phần di sản thừa kế của cụ T9 và cụ M2 quan điểm của các ông bà là cho anh Lâm Văn X hưởng toàn bộ di sản thừa kế mà họ được hưởng để thờ cúng bà B1. Các ông bà từ chối yêu cầu độc lập trong vụ án. Các ông bà xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết tại Tòa án.
- Ông Lưu Minh T4 vắng mặt tại phiên tòa. Tại biên bản lấy lời khai ông T4 trình bày: Ông là con của cụ Lưu Bội T9 và cụ Trương Thị C3, mẹ ông chết năm 1955 khi ông còn nhỏ. Sau khi mẹ chết, bố ông lấy vợ là cụ Trần Thị M2. Cụ T9
và cụ M2 sinh được 10 người con là: Lưu Văn T3, Lưu Thị B1, Lưu Văn N3, Lưu Văn S, Lưu Văn B,Lưu Thị T5, Lưu Thị C, Lưu Thị M,Lưu Thị L1, Lưu Thị C1. Cụ Lưu Bội T9 chết ngày 16/02/2010 không để lại di chúc, cụ Trần Thị M2 chết năm 2014; bà Lưu Thị B1 chết năm 2010 do tại nạn giao thông. Việc cụ M2 và bà B1 chết có để lại di chúc hay không ông không biết. Về thửa đất anh X và chị T2 tranh chấp ông không biết thông tin gì. Khi gia đình anh X họp bàn để lập văn bản chia tài sản thừa kế của bà B1 ông không tham gia, cũng không chứng kiến và không biết thông tin gì. Việc cụ M2 có tham gia họp bàn và ký vào văn bản chia di sản thừa kế của bà B1 cho chị Lâm Thị T2 hay không ông cũng không biết.
Nay Lâm Văn X khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với quyền sử dụng 300m² đất tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là Lâm Thị T2 và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, diện tích 300m² tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên chị Lâm Thị T2, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu được hưởng một phần di sản thừa kế của cụ T9 quan điểm của ông là cho anh Lâm Văn X hưởng toàn bộ di sản thừa kế để thờ cúng bà B1. Ông từ chối yêu cầu độc lập trong vụ án, ông xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết tại Tòa án.
- Anh Kiều Văn T6, chị Nguyễn Thị Á (chị Á ủy quyền cho anh T6) trình bày: Do có người giới thiệu biết chị Lâm Thị T2 có thửa đất muốn bán nên anh chị đã gặp trực tiếp chị T2. Ngày 04/4/2019 anh chị và chị T2 đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 300m², thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất ở thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi ký anh cũng đã tìm hiểu nguồn gốc thửa đất là do chị T2 nhận thừa kế và thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng không có tranh chấp. Anh X, ông T là những người hiện nay đang khởi kiện chị T2 đều cũng đã ký vào văn bản thừa kế. Khi ký hợp đồng chuyển nhượng anh chị hoàn toàn không biết thửa đất có tranh chấp, chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và văn bản chia thừa kế. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng anh chị đi làm thủ tục sang tên thì UBND xã H không làm thủ tục vì nói đất tranh chấp. Đến tháng 02/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đình chỉ vụ án do anh X khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị T2 thì anh chị đi làm thủ tục sang tên. Do không có nhu cầu cấp đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới nên anh chị chỉ đề nghị xác nhận đăng ký biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị T2. Ngày 22/6/2020 anh chị được Văn phòng Đ chi nhánh huyện T12 xác nhận biến động tên anh chị trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị Lâm Thị T2. Tại thời điểm xác nhận biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 84 không có tranh chấp.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị T2 và anh chị vô hiệu và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị T2 đã được xác nhận đăng ký biến động sang tên anh chị, anh chị không đồng ý vì anh chị nhận chuyển nhượng thửa đất số 84 là hợp pháp, ngay tình. Quan điểm của anh chị đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn là đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là chị Lâm Thị T2 và bên nhận chuyển nhượng là anh và chị Nguyễn Thị Á đã được công chứng tại Văn phòng C ngày 04/4/2019 đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có hiệu lực. Đề nghị công nhận quyền sử dụng của anh và chị Á đối với thửa đất trên. Hiện nay, trên đất có tài sản của ông T, anh X xây dựng và anh T8 người thuê nhà của anh X có tu tạo thêm nền nhà và mái hiên anh đồng ý bồi thường cho những người này theo trị giá đã được định giá. Đối với yêu cầu của anh T8 anh cũng đồng ý.
- Đại diện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V trình bày: Bà Lâm Thị T2 được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BA 7330797, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 0035/QSDĐ380/QĐ-UBND ngày 14/5/2010 cho thửa đất số 84, tờ bản đồ 07, địa chỉ thửa đất tại: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, với diện tích 300m² đất ở tại nông thôn, nguồn gốc: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất (nhận thừa kế). Ngày 27/4/2020, Văn phòng tiếp nhận hồ sơ đăng ký biến động đất đai do bà Lâm Thị T2 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất nói trên cho ông Kiều Văn T6 và bà Nguyễn Thị Ánh . Sau khi xem xét hồ sơ, ngày 22/6/2020 Văn phòng thực hiện luân chuyển thông tin sang Chi cục Thuế khu vực T để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định. Ông T6 và bà T2 đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo thông báo của Chi cục Thuế khu vực T. Do ông T6, bà Á không có nhu cầu cấp đổi sang giấy chứng nhận mới nên Văn phòng thực hiện xác nhận đăng ký biến động đất đai trên trang 3 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T6 và bà Á. Quan điểm về giải quyết vụ việc:
+ Về trường hợp đăng ký biến động đất đai giữa bà Lâm Thị T2 và ông Kiều Văn T6, bà Nguyễn Thị Á là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 105 Luật đất đai năm 2013; Điều 37 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Văn phòng đã thực hiện việc xác nhận nội dung biến động trên trang 3 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà T2 theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014; trình tự thực hiện theo Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP; thành phần hồ sơ đầy đủ theo khoản 2 Điều 7 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017.
+ Ông Lâm Văn X đề nghị Tòa án tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với thửa số 84, tờ bản đồ 07, địa chỉ tại: thôn N, xã H, huyện T theo giấy chứng nhận có số phát hành BA733097, số vào số cấp giấy CH00035/QSDD/380/QĐ-UBND do UBND huyện T cấp ngày 14/5/2010. Tuy nhiên, quá trình sử dụng đất, ngày 04/4/2019 bà T2 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho ông T6, bà Á được Văn phòng C4 công chứng theo số công chứng 1476/2019/CNQSDĐ, quyển số 11TP/CC-SCC/HĐGD và ngày 22/6/2020, đã được Văn phòng Đ chi nhánh T12 xác nhận nội dung chuyển nhượng cho ông T6 và bà Á theo hồ sơ số 001429.CN.0011 trên trang 3 của giấy chứng nhận nói trên là chưa đủ căn cứ pháp luật và thực tế để giải quyết. Văn phòng đăng ký đất đai đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Ông Nguyễn Tiến M1 trình bày: Ngày 04/4/2019, bà Lâm Thị T2, ông Kiều Văn T6 và bà Nguyễn Thị Á đến Văn phòng C4, tỉnh Vĩnh Phúc để yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi yêu cầu, các bên đã cung cấp cho Công chứng viên 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 733097, 01 bản chính chứng minh nhân dân tên Lâm Thị T2, 01 bản chính chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thị Á, 01 bản chính căn cước công dân tên Kiều Văn T6 và 02 sổ hộ khẩu bản chính. Công chứng viên sau khi kiểm tra, đối chiếu các tài liệu pháp lý do các bên cung cấp, nhận thấy rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Lâm Thị T2 có nguồn gốc nhận thừa kế nên theo quy định của pháp luật bà T2 có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Vì vậy, Văn phòng C4 đã tiến hành soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên theo yêu cầu của các bên. Khi soạn thảo xong hợp đồng, công chứng viên đã đưa hợp đồng cho các bên đọc lại, giải thích về nội dung, quyền và nghĩa vụ khi ký hợp đồng. Công chứng viên đã hướng dẫn các bên ký vào hợp đồng chuyển nhượng và tiến hành công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Quá trình thụ lý và thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lâm Thị T2 và bên nhận chuyển nhượng là ông Kiều Văn T6, bà Nguyễn Thị Á đã tuân thủ và thực hiện đúng quy định của Luật công chứng 2014. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Đại diện Văn phòng C4 trình bày: Ngày 04/4/2019, bà Lâm Thị T2, ông Kiều Văn T6 và bà Nguyễn Thị Á đến Văn phòng C4, tỉnh Vĩnh Phúc để yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi yêu cầu, các bên đã cung cấp cho Công chứng viên Nguyễn Tiến M1 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 733097, 01 bản chính chứng minh nhân dân tên Lâm Thị T2, 01 bản chính chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thị Á, 01 bản chính căn cước công dân tên Kiều Văn T6 và 02 sổ hộ khẩu bản chính. Công chứng viên Nguyễn Tiến M1 sau khi kiểm tra, đối chiếu các tài liệu pháp lý do các bên cung cấp, nhận thấy rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Lâm Thị T2 có nguồn gốc nhận thừa kế nên theo quy định của pháp luật bà T2 có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Vì vậy, Văn phòng C4 đã tiến hành soạn thảo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên theo yêu cầu của các bên. Khi soạn thảo xong hợp đồng, công chứng viên đã đưa hợp đồng cho các bên đọc lại, giải thích về nội dung, quyền và nghĩa vụ khi ký hợp đồng. Công chứng viên Nguyễn Tiến M1 đã hướng dẫn các bên ký vào hợp đồng chuyển nhượng và tiến hành công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc thụ lý và công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là bà T2 và bên nhận chuyển nhượng là ông T6, bà Á là đúng quy định của Luật công chứng 2014. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và đề nghị vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
- Đại diện UBND xã H trình bày: Tháng 02/2010, ông Lâm Văn T lên
UBND xã H để lập văn bản chia tài sản thừa kế đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ 07, diện tích 300m² đất ở tại thôn N, xã H. Nguồn gốc đất do ông T và bà B1 mua. Mục đích lập hồ sơ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi lập văn bản chia tài sản thừa kế, ông T cung cấp những người thừa kế của bà Lưu Thị B1 (vợ ông T, đã chết ngày 24/01/2010) gồm ông Lưu Văn T11, anh Lâm Văn X, chị Lâm Thị T2, chị Lâm Thị L, bà Chu Thị M3 (bà M3 tên thật là Trần Thị M2, mẹ đẻ của bà B1). Ngoài ra còn có cụ Lâm Văn N4 và cụ Hoàng Thị B2 (là bố mẹ đẻ của ông T11), cụ Lưu Bội T9 (là bố đẻ của bà B1). Cụ N4, cụ B2, cụ T9 đều đã chết trước thời điểm ông T11 lập văn bản phân chia tài sản thừa kế. Ngoài những người trên, ông T11 xác định không còn ai là người thừa kế của bà B1. Căn cứ vào lời trình bày của ông T11, UBND xã H đã lập văn bản phân chia tài sản thừa kế. Nội dung thể hiện gia đình ông T11 cùng thỏa thuận để lại cho chị Lâm Thị T2 toàn bộ thửa đất số 84, tờ bản đồ 07, diện tích 300m² đất ở tại thôn N, xã H. Văn bản phân chia tài sản thừa kế này được UBND xã H chứng thực ngày 23/3/2010.
Sau khi làm văn bản chia tài sản thừa kế, ông T11 là người làm mọi thủ tục liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất trên cho chị Lâm Thị T2. Thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T2 không ai có ý kiến gì. Năm 2013, ông T11 mới làm đơn khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Sau khi xác minh, UBND huyện T công nhận quyết định và thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T2 là đúng quy định của pháp luật. Đến nay, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị Lâm Thị T2 vẫn có hiệu lực pháp luật. Đối với việc lập văn bản chia tài sản thừa kế của gia đình ông Lâm Văn T được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
- Anh Đặng Văn T8 trình bày: Khoảng đầu năm 2018, do có nhu cầu thuê một phần thửa đất số 84 của hộ ông Lâm Văn T ở thôn N, xã H để kinh doanh nên anh gặp anh X để thuê một phần thuộc thửa đất trên, phần đất này ông T đã cho anh X. Việc thuê giữa hai bên có ký hợp đồng, giá thuê 2.000.000 đồng/tháng, không có thời hạn thuê, trường hợp bên cho thuê muốn lấy lại tài sản cho thuê thì phải báo trước một thời gian. Tại thời điểm thuê, trên đất có 01 ngôi nhà cấp bốn, hai gian, sàn xi măng, lợp proximang. Quá trình thuê anh có cải tạo ngôi nhà là lát gạch hoa 01 sàn bên ngoài, bắn mái tôn phần trước cửa. Việc cải tạo anh có thông báo cho anh X và được anh X đồng ý, anh làm mái tôn và lát nền trị giá 20.000.000 đồng. Đương sự nào được đất có phần nhà anh đang thuê, anh đề nghị trả cho anh 20.000.000 đồng.
- Đối với chị Lý Thị T7: Do chị T7 nhiều lần vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập được lời khai.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2022/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã áp dụng các điều 116, 117, 119,132, 649, 650, 651, 652, 660, 357 Bộ luật dân sự; Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 30, Điều 32 Luật tố tụng hành chính, quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Văn X đề nghị tuyên bố
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giữa chị Lâm Thị T2 và anh Kiều Văn T6, chị Nguyễn Thị Á công chứng ngày 04/4/2019 vô hiệu.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giữa chị Lâm Thị T2 và anh Kiều Văn T6, chị Nguyễn Thị Á công chứng ngày 04/4/2019 có hiệu lực. Công nhận anh Kiều Văn T6, chị Nguyễn Thị Á được quyền sử dụng 300m² thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất ở thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Công nhận sự tự nguyện của anh Kiều Văn T6 thanh toán giá trị tài sản trên đất cho ông Lâm Văn T là 21.669.000 đồng; anh Lâm Văn X và chị Lý Thị T7 18.750.000 đồng; anh Đặng Văn T8 20.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Văn X đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành BA733097, số vào sổ CH 00035/QSDĐ ngày 14/5/2012 của Ủy ban nhân dân huyện T chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 84 tờ bản đồ số 07, diện tích 300m² tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên Lâm Thị T2 (được Văn phòng Đ chi nhánh huyện T12 điều chỉnh sang tên cho anh Kiều Văn T6 và chị Nguyễn Thị Á ngày 22/6/2020) và Quyết định số 380/QĐ-UBND ngày 14/5/2012 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Lâm Thị T2.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Văn X: Tuyên bố Văn bản chia thừa kế đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 22/02/2010 được Ủy ban nhân dân xã H chứng thực ngày 22/3/2010 vô hiệu một phần. Phần bị vô hiệu là kỉ phần thừa kế của cụ Lưu Bội T9 và cụ Trần Thị M2 được hưởng của bà Lưu Thị B1 mỗi người là 25m², cả hai người là 50m² thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có trị giá là 800.000.000 đồng.
- Xác nhận kỉ phần thừa kế của cụ Lưu Bội T9 và cụ Trần Thị M2 được hưởng của bà Lưu Thị B1 mỗi người là 25m², cả hai người là 50m² thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có trị giá là 800.000.000 đồng.
- Giao kỉ phần thừa kế của cụ Lưu Bội T9 và cụ Trần Thị M2 được hưởng của bà Lưu Thị B1 là 50m² thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có trị giá là 800.000.000 đồng cho anh Lâm Văn X quản lý. Chị Lâm Thị T2 có trách nhiệm trả kỉ phần thừa kế của cụ Lưu Bội T9 và cụ Trần Thị M2 là 800.000.000 đồng cho anh Lâm Văn X.
Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, về án phí, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là anh Lâm Văn X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lâm Văn T có kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Các bên đương sự không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới và không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn là anh Lâm Văn X không rút đơn khởi kiện, đơn kháng cáo; giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lâm Văn T có kháng cáo nhưng vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn là chị Lâm Thị Thanh g nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là anh Lâm Văn X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lâm Văn T. Ngoài ra chị T2 còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các nội dung sau: Tòa án cấp sơ thẩm xác định chữ ký trong Văn bản chia thừa kế không phải của cụ M2 là không đúng, thiếu căn cứ; Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị có trách nhiệm thanh toán cho anh X 800.000.000 đồng là không đúng, không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho chị, vì chị chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá 750.000.000 đồng, nếu có phải trả số tiền 800.000.000 đồng cho anh X thì Hội đồng xét xử cần phải buộc anh T6, chị Á có trách nhiệm trả ½ số tiền này; Đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế di sản của bà B1 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của anh X là vi phạm tố tụng.
Luật sư Nguyễn Đắc T1 trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Lâm Văn X: Tòa án cấp sơ thẩm xác định Văn bản chia thừa kế vô hiệu một phần là không đúng, cần phải xác định vô hiệu toàn bộ vì văn bản này do chính cán bộ của Ủy ban lập và hướng dẫn ông T về lấy chữ ký của các con, khi Ủy ban chứng thực văn bản chỉ có mặt mình ông T, nội dung văn bản không rõ ràng, không đúng pháp luật vì chưa có sự phân định tài sản của ông T, bà B1 trong khối tài sản chung của vợ chồng, mục đích lập văn bản chỉ để hợp thức hóa hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T2 là không đúng pháp luật. Việc chị T2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T6, chị Á khi đất đang có tranh chấp là vi phạm điều cấm của luật. Mặt khác, trong vụ án này nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế toàn bộ di sản của bà B1 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xem xét, giải quyết chia thừa kế đối với thửa đất số 84, đồng thời không đưa bà N4 là vợ ông T tham gia tố tụng là không đúng, vi phạm thủ tục tố tụng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh X và hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Luật sư Hoàng Kim N1 trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Kiều Văn T6 và chị Nguyễn Thị Á: Thời điểm anh T6, chị Á nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì thửa đất không có tranh chấp, về nội dung này Tòa án cấp sơ thẩm đã có đánh giá rõ ràng, chính xác trong phần nhận định của bản án. Do đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị T2 với vợ chồng anh T6, chị Á là hợp pháp, đáp ứng đủ các điều kiện về chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông T và không chấp nhận kháng cáo của anh X, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của anh Lâm Văn X và ông Lâm Văn T là hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông T vẫn vắng mặt, do đó đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông T. Về nội dung, với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định Văn bản chia thừa kế chỉ vô hiệu một phần và xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị T2 với anh T6, chị Á có hiệu lực pháp luật là không đúng. Do đó kháng cáo của anh X là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn là anh Lâm Văn X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lâm Văn T đều trong thời hạn luật định và hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có kháng cáo là ông Lâm Văn T vắng mặt mặc dù đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Ông T không ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó đây là trường hợp được coi là người kháng cáo từ bỏ việc kháng cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông T.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm UBND xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V, chị Lâm Thị L, anh Kiều Văn T6, chị Nguyễn Thị Á vắng mặt nhưng đã có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác gồm UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Văn phòng C, Công chứng viên Nguyễn Tiến M1, ông Đặng Văn T8, ông Lưu Minh T4, ông Lưu Văn T3, bà Lưu Thị N, ông Lưu Văn S, ông Lưu Văn B, bà Lưu Thị T5, bà Lưu Thị C, bà Lưu Thị M, bà Lưu Thị C1, bà Lưu Thị L1 vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về tính hợp pháp của Văn bản chia tài sản thừa kế được UBND xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc chứng thực ngày 22/3/2010.
Vợ chồng ông Lâm Văn T và bà Lưu Thị B1 có 03 người con chung là anh Lâm Văn X, chị Lâm Thị T2, chị Lâm Thị L. Tài sản chung do vợ chồng ông T, bà B1
tạo lập được là 02 thửa đất, diện tích mỗi thửa 300m² có vị trí nằm liền kề nhau, địa chỉ tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông T, bà B1 thống nhất mỗi người sẽ đứng tên quyền sử dụng 01 thửa đất, theo đó bà B1 đứng tên thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07. Năm 2010, thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà B1 đối với thửa đất số 84 đã hoàn tất, chỉ còn chờ UBND cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đến ngày 24/01/2010 bà B1 chết do tai nạn giao thông không để lại di chúc.
Sau khi bà B1 chết, ông T là người trực tiếp đến UBND xã H để hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 84. Kết quả xác minh tại UBND xã H thể hiện:
- Tại Biên bản xác minh ngày 11/12/2014 (BL 334,335), ông Hoàng Chân Q1 – Cán bộ địa chính xác nhận: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà B1 được hoàn thiện đầy đủ và chuyển đến Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T vào tháng 11/2009, tuy nhiên đến tháng 01/2010 bà B1 chết. Ông Q1 với tư cách là cán bộ địa chính đã thông báo cho UBND huyện T biết, nếu UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận thì UBND xã H sẽ giao lại cho gia đình, nếu UBND huyện T chưa cấp giấy chứng nhận thì hủy việc cấp giấy chứng nhận, bởi theo quy định thì không cấp giấy chứng nhận cho người chết. UBND huyện T đã thông báo trường hợp của bà Ba p làm lại hồ sơ theo trình tự chia thừa kế. UBND xã H đã thông báo cho gia đình ông T lên làm lại thủ tục. Ông Q1 giải thích cho ông T là đất không còn lưu giữ giấy tờ thì một chủ sử dụng khó có thể đứng tên 02 giấy chứng nhận và hướng dẫn ông T lựa chọn một người đủ 18 tuổi đứng tên trong giấy chứng nhận. Sau khi nghe hướng dẫn, ông T và gia đình đã thống nhất làm các thủ tục cho chị Lâm Thị T2 đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Tại Biên bản xác minh hồi 9h ngày 18/11/2020 (BL 166, 167), ông Hoàng Chân Q1 – Phó Chủ tịch UBND xã H xác nhận: UBND huyện T thông báo cho gia đình ông T trường hợp này phải làm lại hồ sơ làm thủ tục chia thừa kế cho 01 người đứng tên vì hồ sơ ban đầu là làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà B1. Nay bà B1 đã chết, theo quy định của pháp luật phải chia thừa kế. Sau đó ông T lên UBND xã đề nghị lập hồ sơ chia di sản thừa kế và thống nhất để chị Lâm Thị T2 đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Tại Biên bản xác minh ngày 25/01/2022 (BL 278, 279), đại diện UBND xã H xác nhận: Khi ông Lâm Văn T lên UBND xã H đề nghị chứng thực Văn bản chia tài sản thừa kế thì chỉ có mình ông T lên, trong văn bản chia tài sản thừa kế đã có sẵn chữ ký của 03 người con ông T là Lâm Văn X, Lâm Thị T2, Lâm Thị L và chữ ký của bà Chu Thị M3. Khi đề nghị chứng thực văn bản chia tài sản thừa kế, ông T chỉ nói miệng làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị T2 nhưng sau này ông sẽ chia phần đất đó thành 03 phần cho ông và 03 con nhưng không có văn bản nào thể hiện quan điểm về việc chia đó và khi ông nói, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà B1 đều không có mặt.
Quá trình giải quyết vụ án, ông T trình bày để hoàn tất thủ tục cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 84, ông T đến UBND xã H hỏi và được hướng dẫn gia đình cần thống nhất lập Văn bản chia tài sản thừa kế để một người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 84; Văn bản chia tài sản thừa kế được lập chỉ nhằm hợp thức hóa thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sau khi Văn bản chia tài sản thừa kế (đã được soạn sẵn) được lập với nội dung để lại cho chị T2 thửa đất, ông T đưa lại cho 03 con là anh X, chị T2, chị L ký rồi ông T nộp Văn bản chia tài sản thừa kế lên UBND xã H chứng thực vào ngày 22/3/2010. Như vậy, nội dung trình bày của ông T là phù hợp với kết quả xác minh tại UBND xã H nêu trên.
Ngoài ra, ông T và anh X còn khẳng định các thành viên trong gia đình từng người ký vào Văn bản chia tài sản thừa kế mà không có cuộc họp thống nhất trong gia đình và Văn bản này không phải là văn bản thỏa thuận giữa các thành viên gia đình về việc phân chia thừa kế tài sản. Khẳng định ông T và anh X là phù hợp với thực tế sau khi chị Lâm Thị T2 được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 84 tờ bản đồ số 07, diện tích 300m² (có số phát hành BA733097; số vào sổ CH 00035/QSDĐ ngày 14/5/2010), ông T là người giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trong nội bộ gia đình không có việc chuyển giao quyền quản lý, sử dụng đất cho chị T2, phù hợp với việc ông T, anh X vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất từ thời điểm sau khi bà Ba chết đến nay, ông T, gia đình anh X đã xây nhà cấp 4, các công trình khác trên đất và cho anh Đặng Văn T8 thuê một phần thửa đất trên có nhà do anh X xây dựng.
Mặt khác, xét về thủ tục chứng thực Văn bản chia tài sản thừa kế: Văn bản không thể hiện rõ thời gian, địa điểm lập (chỉ ghi thời điểm UBND xã H tiếp nhận hồ sơ là ngày 22/02/2010); phần chứng thực ghi các bên tham gia ký vào Văn bản trước sự chứng kiến của đại diện UBND xã H là không phù hợp với nội dung Biên bản xác minh ngày 25/01/2022 đã nêu tại phần trên, cụ thể không có việc các bên ký kết Văn bản trước mặt người chứng thực cũng như không xuất trình đầy đủ giấy tờ, tài liệu theo quy định của pháp luật (tại phiên tòa phúc thẩm chị T2 xác nhận Văn bản được ký tại nhà và không có việc tất cả mọi người đến UBND làm thủ tục chứng thực). Do đó, thủ tục chứng thực Văn bản đã vi phạm Điều 11, Điều 52 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ quy định về công chứng, chứng thực.
Xét về nội dung Văn bản chia tài sản thừa kế thấy rằng mặc dù tiêu đề văn bản là chia tài sản thừa kế nhưng nội dung chỉ nêu chung chung “Sau khi họp gia đình, gia đình tôi đã đi đến thống nhất để lại cho bà Lâm Thị T2...tổng diện tích đất thừa kế là 300m² đất ở, tại Tờ bản đồ số 07, thửa số 84...”. Như vậy có thể hiểu nội dung Văn bản xác định di sản thừa kế của bà B1 là toàn bộ diện tích đất 300m² là không đúng, bởi lẽ diện tích đất này là tài sản chung của vợ chồng ông T, bà B1. Đồng thời nội dung Văn bản cũng không thể hiện rõ ràng ý chí của ông T về việc ông T cho tặng chị T2 phần tài sản của mình trong khối tài sản chung này (ông T ký Văn bản với tư cách người thừa kế của bà B1). Hơn nữa, tại thời điểm bà B1 chết, bố mẹ của bà B1 là cụ Lưu Bội T9 và cụ Trần Thị M2 vẫn còn sống. Thời điểm UBND xã H đăng ký tiếp nhận hồ sơ là ngày 22/02/2010, cụ Lưu Bội
T9 chết ngày 16/02/2010 nên trong Văn bản có thể hiện nội dung cụ T9 đã chết, tuy nhiên các thừa kế của cụ T9 không được tham gia ký kết Văn bản là không đúng. Đối với chữ ký của cụ M2, các đương sự cũng như các con của cụ M2 đều xác định cụ M2 không biết chữ, bản thân ông T là người đi lấy chữ ký các thành viên xác định không đưa cho cụ M2 ký mà nhờ người khác ký và chữ ký ghi không đúng họ của cụ M2, cụ M2 cũng không ký trước mặt người chứng thực nên có cơ sở xác định chữ ký trong văn bản chia thừa kế ký tên “Chu Thị M3” không phải là chữ ký của cụ M3.
Với các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố Văn bản chia thừa kế đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, địa chỉ tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 22/02/2010 được UBND xã H chứng thực ngày 22/3/2010 vô hiệu là có căn cứ. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định Văn bản chỉ vô hiệu một phần (phần bị vô hiệu là kỷ phần thừa kế của cụ Lưu Bội T9 và cụ Trần Thị M2) là không đúng, không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
[4] Về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 84 giữa người chuyển nhượng là chị Lâm Thị T2 và người nhận chuyển nhượng anh Kiều Văn T6, chị Nguyễn Thị Á được công chứng ngày 04/4/2019.
Ngày 14/5/2010, UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BA733097, số vào sổ CH0035/QSDĐ theo Quyết định 380/QĐ-UBND ngày 14/5/2010 cho chị T2. Sau đó ông T là người nhận và giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do ông T và chị T2 phát sinh mâu thuẫn nên năm 2012 ông T làm đơn đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho chị T2, đồng thời chị T2 cũng có đề nghị ông T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 04/6/2013, UBND huyện T ban hành Quyết định số 431/QĐ-UBND với nội dung hủy bỏ Quyết định số 380/QĐ-UBND ngày 14/5/2010 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Lâm Thị T2. Chị T2 khiếu nại quyết định trên và được Chủ tịch UBND huyện T giải quyết khiếu nại tại Quyết định số 410/QĐ-CT ngày 27/8/2013.
Không đồng ý với Quyết định số 410/QĐ-CT, chị T2 tiếp tục có đơn khiếu nại và UBND huyện T đã ban hành Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 18/02/2014 với nội dung hủy bỏ Quyết định số 431/QĐ-UBND ngày 04/6/2013 và Quyết định 410/QĐ-CT ngày 27/8/2013 nêu trên và giao UBND xã H lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BA733097 cho chị T2.
Tháng 7/2014 ông T khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 84, sau đó ông T rút đơn khởi kiện nên Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo đã ban hành Quyết định đình chỉ vụ án vào ngày 17/3/2015.
Ngày 16/8/2019, anh Lâm Văn X khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng
tên chị T2, nhưng do đã hết thời hiệu khởi kiện nên Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vào ngày 28/02/2020.
Ngày 18/5/2020, anh Lâm Văn X tiếp tục khởi kiện vụ án dân sự này.
Như vậy, có cơ sở xác định trong nội bộ gia đình ông T, anh X, chị T2 đã tồn tại tranh chấp đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 07, địa chỉ tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trong nhiều năm nhưng chưa được giải quyết dứt điểm. Tuy nhiên vào ngày 04/4/2019, chị T2 đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất số 84 cho anh T6, chị Á.
Quá trình giải quyết vụ án, chính anh T6 thừa nhận, phù hợp với kết quả xác minh tại UBND xã S thể hiện sau khi ký hợp đồng anh T6, chị Á đã đến UBND xã S đề nghị làm thủ tục sang tên thì UBND xã H không làm thủ tục vì cho rằng đất đang có tranh chấp. Đến ngày 27/4/2020 anh T6, chị Á đã đề nghị Văn phòng Đ chi nhánh T12 đăng ký biến động đất đai trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị Lâm Thị T2. Sau khi anh T6, chị T2 hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo thông báo của Chi cục thuế khu vực T, ngày 22/6/2020 Văn phòng Đ chi nhánh T12 đăng ký biến động đất đai trên trang 3 của giấy chứng nhận chuyển nhượng cho anh T6 và chị Á. Thời điểm này anh X đã khởi kiện chia tài sản thừa kế đối với thửa đất số 84 tại Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc (đơn khởi kiện ngày 18/5/2020). Mặt khác trên thực tế tại thời điểm chị T2 và vợ chồng anh T6, chị Á ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì trên đất vẫn đang tồn tại nhà, công trình khác của ông T, anh X xây dựng trên đất; chị T2 không phải là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất và giữa chị T2 và vợ chồng anh T6, chị A không hề ký kết, thực hiện bàn giao quyền sử dụng đất. Do đó, việc anh T6, chị Á cho rằng quá trình nhận chuyển nhượng đất anh chị không biết đất đang có tranh chấp là không đúng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị T2 và vợ chồng anh T6, chị Á là hợp pháp, ngay tình là không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
[5] Căn cứ vào phân tích tại mục [3], [4] nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị T2 và hủy nội dung xác nhận biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho anh T6, chị Á của Văn phòng Đ chi nhánh T12 là có căn cứ.
[6] Hội đồng xét thấy việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm có nhiều sai sót, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, đồng thời phía nguyên đơn còn có yêu cầu khởi kiện về việc phân chia thừa kế di sản của bà B1 và việc giải quyết vụ án cần phải xử lý hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu nếu các bên có yêu cầu trong cùng vụ án. Do các sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm không thể khắc phục hoặc thực hiện bổ sung tại phiên toà phúc thẩm được, vì vậy cần phải huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[7] Về án phí: Ông Lâm Văn T từ bỏ việc kháng cáo nên số tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm ông T đã nộp sẽ được sung vào công quỹ nhà nước.
Do Toà án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ án sơ thẩm nên anh Lâm Văn X không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 296, khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lâm Văn T.
- Huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2022/DS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí:
- + Sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông Lâm Văn T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006882 ngày 29/9/2022 (do anh X nộp thay ông T) tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc.
- + Anh Lâm Văn X không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho anh Lâm Văn X số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006881 ngày 29/9/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc.
Về nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phùng Hải Hiệp |
Bản án số 173/2024/DS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp tài sản thừa kế; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia tài sản thừa kế vô hiệu; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 173/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản thừa kế; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên bố văn bản phân chia tài sản thừa kế vô hiệu; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kháng cáo của nguyên đơn là anh Lâm Văn X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lâm Văn T đều trong thời hạn luật định và hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
