|
TÒA ÁN ND Q HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 173/2023/HS-ST Ngày: 21/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Hồng Sơn
Ông Nguyễn Văn Hòa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Bà Mai Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 21 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 160/2023/HSST ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2023/QĐXX-ST ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: VŨ HUYỀN ANH - Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1988 tại Hà Nội; HKTT: SỐ E C TT G, phường G, quận B, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên cha: Vũ Minh S – SN: 1960; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Bích L – SN: 1968; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Có 03 con, sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án tiền sự: Không
Tạm giữ: 25/5/2023 Tạm giam: 29/5/2023
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn T – sinh năm: 1980; HKTT: Thôn I xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 24/5/2023, tổ công tác Công an phường T trong khi làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện Nguyễn Phúc T1 điều khiển xe máy BKS: 29V1- 887.83 chở phía sau là Vũ Huyền A trên phố H có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã tiến hành bám theo. Lúc này, T1 dừng xe tại lòng đường trước cửa số 14 phố H, Huyền A xuống xe, đứng dưới lòng đường nên tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, Huyền A tự nguyện lấy từ trong túi xách đang đeo bên người ra 02 túi nilong kích thước khoảng 6,5 x 7,5 cm màu hồng bên trên có chữ “CHALI” để giao nộp cho tổ công tác. Huyền A khai nhận là ma tuý mang đi giao bán cho khách để kiếm lời. Tổ công tác tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong số ma túy trên và mời những người có liên quan về trụ sở cơ quan Công an để tiếp tục xác minh làm rõ.
Tang vật thu giữ của Vũ Huyền A: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, có lắp sim số 0878231988 đã qua sử dụng; 02 túi nilong kích thước khoảng 6,5 x 7,5 cm màu hồng bên trên có chữ “CHALI”. Đối tượng khai đựng ma tuý đi bán cho khách; 01 túi xách màu trắng, quai xanh đã qua sử dụng.
Tại Bản Kết luận giám định số 3397/KL-KTHS ngày 01/06/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: Chất bột màu cam bên trong 02 gói nilông màu hồng có in chữa “CHALI” đều có ma tuý loại MDMA, ma tuý loại ma túy loại Ketamine và Nimetazepam tổng khối lượng: 2,364 gam.
Tại Kết luận giám định số 4200/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của V - Bộ C kết luận về hàm lượng ma túy cụ thể của từng loại ma túy MDMA, Ketamine và N trong tang vật thu giữ của Vũ Huyền A kết luận:
- Hàm lượng MDMA và Ketamine trong 1,214 gam mẫu gửi giám định lần lượt là 0,8% và 0,5%
- Khối lượng MDMA và Ketamine trong 1,214 gam mẫu gửi giám định lần lượt là 0,009gam và 0,006gam.
- Hiện nay, V chưa có mẫu chuẩn định lượng Nimetazepam nên không xác định được hàm lượng, khối lượng Nimetazepam trong mẫu gửi giám định.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Huyền A khai: Ngày 22/5/2023, Huyền A được một người bạn xã hội là nam giới (không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại) cho 02 (hai) túi ni lông màu hồng có in chữ “CHALI” bên trong có ma tuý “nước vui”. Sau đó, Huyền A cất ở túi xách cá nhân. Đến ngày 23/5/2023, do có nhu cầu phải trả tiền thuê nhà trọ nên Huyền A nảy sinh ý định bán 02 túi ma túy nước vui trên. Đến khoảng gần 19h ngày 24/5/2023, Huyền A đang ở phố P thì nhận được cuộc điện thoại từ số 0936.258.xxx gọi vào số điện thoại của mình là 0878.231.xxx và hỏi mua ma túy nước vui Cha li. Huyền A báo còn 02 túi, rồi hai bên thỏa thuận giá là 1.500.000 đồng/1 gói và hẹn giao ma túy tại trước số A H, phường T, quận H, Hà Nội. Sau đó, Huyền A đặt xe ôm công nghệ qua ứng dụng “Bee” và được một tài xế là nam thanh niên điều khiển xe máy Honda Wave, BKS: 29V1-887.83 đón và chở đến địa chỉ số A H, H, Hà Nội, khi đến nơi thì có lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ nên Huyền A tự nguyện giao nộp ma túy và khai nhận đang đi bán ma túy cho khách.
Tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu, Vũ Huyền A dương tính với ma tuý MDMA.
Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen có lắp sim số 0878231988, thu giữ nội dung tin nhắn và lịch sử cuộc gọi cho số thuê bao 0936 258 501 để trao đổi mua ma tuý.
Như vậy, khối lượng ma túy MDMA trong 2,364 gam ma tuý thu giữ của Vũ Huyền A là 0,019 gam, khối lượng ma túy Ketamine trong 2,364 gam ma tuý thu giữ của Vũ Huyền A là 0,012 gam; không đủ căn cứ xác định khối lượng chất ma túy Nimetazepam. Vũ Huyền A cất giấu 03 chất ma tuý nhằm mục đích bán trái phép quy định tại các điểm khác nhau tại Điều 251 Bộ luật hình sự nên được quy đổi theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ như sau: 0,019gam MDMA (so với khối lượng tối thiểu chất ma tuý quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự) là 0,38 % + 0,012gam Ketamine (so với khối lượng tối thiểu chất ma tuý quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự) là 0,06 % = 0,44%.
Về đối tượng mua ma tuý của Vũ Huyền A: Sau khi kiểm tra hành chính đối với Huyền A, đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác tiếp tục phát hiện 01 nam
thanh niên đang đi bộ vào ngõ A H có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hanh kiểm tra và đưa về trụ sở cơ quan công an để lấy lời khai. Tại cơ quan điều tra, nam thanh niên khai nhận tên là Phạm Văn T là người đang chờ đề mua mua tuý tại số A H. T khai cụ thể như sau: Chiều 24/5/2023, T có gặp một người bạn tên T2 (T không biết rõ tên tuổi) và hỏi T2 chỗ bán ma tuý nước vui. T2 đã cho T số tiện thoại 0878231988 để liên hệ. T gọi đến số điện thoại này thì có một người phụ nữ nghe máy và thoả thuận việc mua bán 02 gói nước vui với giá 1.500.000 đồng/gói và hẹn giao ma tuý tại số A phố H. Khi T ra điểm hẹn để lấy ma tuý thì không thấy người bán đâu, sau đó bị kiểm tra, đưa về trụ sở cơ quan công an như trên.
Tang vật thu giữ của Phạm Văn T: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, có lắp sim số 0936258501 đã qua sử dụng; 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng chẵn).
Phạm Văn T hỏi mua ma tuý của Vũ Huyền A nhưng chưa mua được, chưa cấu thành tội phạm, kết quả xét nghiệm âm tính với ma tuý nên cơ quan điều tra không xử lý. Tang vật thu giữ của Phạm Văn T, cơ quan điều tra đã chuyển tang vật xử lý theo quy định pháp luật.
Về Nguyễn Phúc T1 (lái xe công nghệ tại app B) - người điều khiển xe máy BKS: 29V1- 887.83 chở Vũ Huyền A khai như sau: T1 là nhân viên của ứng dụng Bee, khoảng 19h45 ngày 24/5/2023, T1 nhận được cuốc xe đi từ phố P đến số A H. Sau khi nhận cuốc xe trên, T1 điều khiển xe máy Honda Wave BKS: 29V1- 887.83 đến đón khách là Huyền A và chở Huyền A đến trước của số A H. Khi đến nơi, Huyền A xuống xe, đứng dưới lòng đường thì bị lực lượng công an đến kiểm tra.
Kết quả xét nghiệm của Nguyễn Phúc T1 âm tính với ma tuý.
Tang vật thu giữ của Nguyễn Phúc T1 gồm: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh BKS 29V1- 887.83 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đỏ, lắp sim số 0389925297 đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã kiểm tra điện thoại của T1 có đầy đủ thông tin đặt chuyến xe chở Vũ Huyền A. Tiến hành tra cứu, xác minh xác định chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy tang vật của vụ án nào khác. Nguyễn Phúc T1 xuất trình đầy đủ những giấy tờ xe chính chủ mang tên mình, đồng thời có lời khai không biết mục đích chở Huyền A để đi bán ma tuý.
Từ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định Nguyễn Phúc T1 không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Vũ Huyền A nên không xử
lý đối với Nguyễn Phúc T1. Đối với các tang vật thu giữ nêu trên, Cơ quan điều tra đã trao trả đồ vật bị tạm giữ cho Nguyễn Phúc T1.
Về đối tượng nam giới cho ma tuý cho Vũ Huyền A, do Huyền A khai không rõ tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại và tiến hành kiểm tra điện thoại của Huyền A không còn dữ liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 149/CT-VKS ngày 28/7/2023 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Vũ Huyền A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự là đúng. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với xã hội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị áp dụng khoản 1 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự kết tội bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Vũ Huyền A đã khai nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, từ đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 24/5/2023, Vũ Huyền A có hành vi cất giấu 2,364 gam ma tuý trong đó bao gồm: 0,019 gam ma túy MDMA, 0,012gam ma túy Ketamine và ma tuý Nimetazepam không có mẫu so sánh nên không xác định được hàm lượng mục đích để bán thì bị bắt quả tang cùng tang vật tại tại lòng
đường trước cửa số A phố H, phường T, quận H, Hà Nội.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện vô cùng nguy hiểm, không chỉ làm suy kiệt kinh tế và sức lao động mà còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại của việc mua bán ma túy nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý, bởi vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy số ma túy, túi xách màu trắng đã cũ và 02 sim điện thoại thu giữ của bị cáo và của Phạm Văn T.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng (thu giữ của bị cáo).
- 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone màu xám, máy đã cũ, đã qua sử dụng và 3.000.000 đồng thu giữ của Phạm Văn T.
Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt tiền theo khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Vũ Huyền A phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Áp dụng:
- + Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự;
- + Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Xử phạt: Vũ Huyền A 30 (ba mươi tháng) tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2023.
Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Tang vật:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có: 02 túi ni lông 02 túi nilong kích thước khoảng 6,5 x 7,5cm màu hồng bên trên có chữ “CHALI” đều có ma tuý loại MDMA, ma tuý loại ma túy loại Ketamine và Nimetazepam tổng khối lượng: 2,364 gam (PC09 - Công an T3 đã trích lấy mẫu để giám định 1,105 gam, còn lại 1,214 gam); 01 túi xách màu trắng, quai xanh đã qua sử dụng và 02 sim điện thoại;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng (thu giữ của bị cáo).
- - 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone màu xám, máy đã cũ, đã qua sử dụng và 3.000.000 đồng thu giữ của Phạm Văn T.
Tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 14/8/2023 và Giấy nộp tiền mặt ngày 03/8/2023.
- Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Nguyên |
Bản án số 173/2023/HS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 173/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Huyền A - Mua bán trái phép chất ma túy
