Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 173/2023/HS-ST

Ngày: 21 – 8 - 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Bằng và ông Nguyễn Quý Hạc.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2023/QĐXXST-HS ngày 07/8/2023 đối với bị cáo:

  1. Lê Nhật D, sinh năm 1993 tại Đồng Nai; ĐKHKTT: ấp A, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Cư trú: ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thái S, sinh năm 1960 và con bà Võ Kim H, sinh năm 1965; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị giam giữ từ ngày 30/10/2022 đến nay. (Có mặt)
  2. Phạm Hải L, sinh năm 2000 tại Đồng Nai; Cư trú: ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn M, sinh năm 1967 và con bà Ngô Thị H1, sinh năm 1970; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị giam giữ từ ngày 30/10/2022 đến nay. (Có mặt)
  3. Lê Tuấn T, sinh năm 1997 tại Hà Nam; Cư trú: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh B (chết) và con bà Trần Thị T1, sinh năm 1964; Bị cáo khai chung sống như vợ chồng với chị Trần Thị Tuyết L1, sinh năm 1999, có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không; Bị giam giữ từ ngày 30/10/2022 đến nay. (Có mặt)
  4. Ngô Vũ Hoàng T2, sinh năm 2001 tại Đồng Nai; Cư trú: ấp L, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Hoàng K, sinh năm 1972 và con bà Vũ Thị Hoàng A, sinh năm 1976; chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: không; Bị giam giữ từ ngày 30/10/2022 đến nay. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Nhật D, Phạm Hải L, Lê Tuấn T và Ngô Vũ Hoàng T2 là bạn bè quen biết ngoài xã hội và đều là các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/10/2022, D và L ngồi uống nước tại quán cà phê “The X” ở ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai, tại đây D rủ L góp tiền mua ma túy sử dụng. Sau đó D sử dụng điện thoại di động liên hệ với đối tượng tên Trần Trọng Q qua mạng xã hội facebook nhờ Q mua dùm 2.000.000 đồng tiền ma túy khay và ma túy kẹo, Q đồng ý. Sau đó L góp 1.500.000 đồng, D góp 500.000 đồng để chuyển trả tiền mua ma túy cho Q nhưng do mạng bị lỗi nên D không chuyển được tiền. D gọi điện cho Ngô Vũ Hoàng T2 có nick facebook là “đệ tử” nhờ T2 chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng cho Q. D không nói cho T2 biết chuyển khoản tiền mua ma túy. Lúc này T2 đang đi làm không có ở nhà, D hỏi mượn chìa khóa nhà T2 thuê ở thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T, đồng thời rủ T2 về sử dụng ma túy chung thì T2 đồng ý và chỉ chỗ để chìa khóa ở mép cửa cho D. Lúc sau D gọi điện rủ T đến nhà T2 sử dụng ma túy được T đồng ý.

Sau đó L điều khiển xe mô tô biển số 60B8- 806.35 chở D đi đến nhà của T2 thuê, khi đến nơi D lấy chìa khóa mở cửa nhà và đi vào căn phòng số 02, trong phòng có sẵn thẻ nhựa và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, D nói L xuống bếp lấy 01 cái đĩa sứ để bỏ ma túy, rồi D liền hề thuê loa đèn của một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Khoảng 21 giờ cùng ngày, Q mang ma túy đến gồm 01 gói ma túy khay và 01 viên ma túy tổng hợp màu nâu, một lúc sau có một người mang loa đèn đến cho D, D trả cho người này số tiền thuê loa đèn 500.000 đồng. Sau đó D bỏ đối viên ma túy tổng hợp để D và L sử dụng và đổ một phần ma túy khay ra đĩa, số ma túy khay còn lại D cất ở dưới nệm, D lấy thẻ nhựa cả nhuyễn ma túy khay và dùng tờ tiền làm ống hút để hít ma túy khay, lúc sau thì T đến và vào phòng sử dụng ma túy khay cùng D và L. Đến khoảng 00 giờ ngày 30/10/2022 T2 đi làm về, T ra mở cửa cho T2. Khi T2 đi vào phòng đưa cho D mượn cục sạc thì thấy D, L và T đang sử dụng ma túy nhưng T2 không sử dụng mà đi sang phòng của T2 ở kế bên. Đến khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày khi thấy lực lượng Công an đến kiểm tra, T2 chạy sang phòng số 02 báo cho D, L và T biết đồng thời cầm đĩa sứ chứa ma túy mà L, D và T đang sử dụng mang ra nhà vệ sinh rửa rồi cất lên kệ bếp, còn thẻ nhựa T2 vứt vào sọt rác thì bị Công an phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nylon chứa chất màu trắng các đối tượng khai là ma túy đang sử dụng còn dư lại (ký hiệu M1); 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuốn ống có dính chất màu trắng (ký hiệu M2); 01 loa ký hiệu Harman/kadon, 02 đèn nháy không rõ nhãn hiệu, 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa; 05 điện thoại di động các loại gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax số sim 0941330303, 01 điện thoại di động hiệu Vivo số sim 0985270659, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus số sim 0337852879, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 số sim 0978255179; 01 điện thoại di động hiệu Vivo số sim 0876577778; 03 xe mô tô biển số 60H1- 476.15; 60B8- 921.91 và 60B8- 806.35.

Khi bị bắt quả tang, Lê Tuấn T đã tự thú về việc D rủ T đến nhà T2 sử dụng ma túy khay 03 lần, trong đó có 01 lần vào khoảng tháng 8/2022 D rủ T góp tiền mua ma túy về sử dụng chung cùng nhiều người khác; 01 lần vào tháng 6/2022, D rủ T sử dụng ma túy, sau khi sử dụng xong ma túy và trước khi về D nói T phụ tiền sử dụng ma túy nên T có tự nguyện góp 500.000 đồng; 01 lần vào tháng 10/2022 (trước ngày 29/10/2022 một tuần), D rủ T sử dụng ma túy và T không phải góp tiền.

Đối với căn nhà không số thuộc thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T nêu trên do bị cáo Ngô Vũ Hoàng T2 trực tiếp thuê của ông Trần Minh S1 từ tháng 7/2022 để ở, ngoài T2 còn có Hồ Thị Anh T3 và Trần Trọng Q sinh sống cùng, T2 ở phòng số 01, T3 và Q ở phòng số 02 của căn nhà. Ngoài lần bị bắt quả tang thì trước đó, D, L, T và T2 đã sử dụng ma túy dạng “khay” chung với nhau nhiều lần tại phòng số 02 của căn nhà trên, cụ thể:

  • Lần đầu vào khoảng tháng 6/2022, D rủ T sử dụng ma túy. Q là người mua ma túy và chuẩn bị các công cụ để sử dụng ma túy, tham gia sử dụng ma túy gồm có D, T, Q, T3, T2 và 02 người bạn của Q (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), loại ma túy sử dụng là “kẹo” và “khay”. Sau khi sử dụng xong ma túy, trước khi T về thì Q nói D phụ tiền sử dụng ma túy và D nói T nên T đưa cho D 500.000 đồng và D góp 1.000.000 đồng để đưa cho Q. Ngay sau đó T về trước và D ở lại chơi với Q.
  • Lần thứ hai vào khoảng tháng 8/2022, D rủ T sử dụng ma túy, D góp số tiền 1.000.000 đồng, T góp số tiền 500.000 đồng đưa cho Q đi mua ma túy “kẹo” và “khay” về sử dụng. Tham gia sử dụng ma túy gồm có D, T, L, T2, Q và T3.
  • Lần thứ ba cách ngày bị bắt quả tang khoảng 1 tuần, Q cung cấp ma túy cho D và T sử dụng tại phòng ngủ của Q, D và T không phải góp tiền.
  • Lần thứ tư bị bắt quả tang thì D rủ L mua ma túy về sử dụng D góp 500.000 đồng và L góp 1.500.000 đồng nhờ Q mua dùm ma túy, D rủ T sử dụng ma túy và T không phải góp tiền.

Sau khi thu giữ vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trưng cầu giám định số ma túy thu giữ nêu trên. Tại Bản kết luận giám định số 2323/KL-KTHS ngày 04/11/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

  • Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,9901 gam, loại Ketamine.
  • Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M2) dính trên 01 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine. Mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.

Về vật chứng:

  • Đối với 01 loa ký hiệu Harman/kadon và 02 đèn nháy không rõ nhãn hiệu, D khai thuê của một người chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa làm rõ được nguồn gốc và chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo số sim 0985270659 thu giữ của L và 01 điện thoại di động hiệu Vivo số sim 0876577778 thu giữ của D không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho L và D.
  • Đối với xe mô tô biển số 60B8- 806.35 thu giữ của L, kết quả tra cứu xác định xe do bà Ngô Thị H1 (là mẹ của L) đứng tên sở hữu. Ngày 29/10/2022 L mượn xe của bà H1 sử dụng vào việc phạm tội bà H1 không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bà H1.
  • Đối với xe mô tô biển số 60B8- 921.91 thu giữ của T, kết quả tra cứu xác định xe do chị Trần Thị Tuyết L1 đứng tên sở hữu. Ngày 29/10/2022 T mượn xe của chị L1 sử dụng vào việc phạm tội chị L1 không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chị L1.
  • Đối với xe mô tô biển số 60H1- 476.15 thu giữ của T2, kết quả tra cứu xác định xe do ông Trần Trọng Q1 (bố của Trần Trọng Q) đứng tên sở hữu. Ông Q1 cho Q mượn xe làm phương tiện đi lại. Ngày 29/10/2022 T2 mượn xe của Q để sử dụng, hiện nay chưa làm việc được với Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
  • Đối với Trần Trọng Q và Hồ Thị Anh T3 hiện nay không có mặt ở địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập hình ảnh của Q, T3 và cho các bị cáo nhận dạng qua bản ảnh. Kết quả đối với Trần Trọng Q, chỉ có L xác định được hình ảnh nhận dạng của Q, còn T2, D và T không xác định được đâu là hình ảnh nhận dạng của Q. Đối với Hồ Thị Anh T3 thì chỉ có L và T2 xác định được hình ảnh nhận dạng của T3, còn D và T không xác định được đâu là hình ảnh nhận dạng của T3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định truy tìm người đối với Trần Trọng Q và Hồ Thị Anh T3 nhưng chưa tìm thấy và chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
  • Đối với ông Trần Minh S1 cho Ngô Vũ Hoàng T2 thuê nhà, ông S1 không biết việc T2 chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý.
  • Đối với hành vi tàng trữ 0,9901 gam ma túy loại Ketamine của Lê Nhật D và Phạm Hải L, do chưa đủ định lượng cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D và L theo quy định.
  • Đối với người đàn ông cho Lê Nhật D thuê loa, đèn để sử dụng ma túy, D khai không rõ nhân thân, lai lịch của người cho thuê nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKS-TB ngày 13 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo Lê Nhật D và Lê Tuấn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Phạm Hải L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Ngô Vũ Hoàng T2 về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa, Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Tuấn T và chỉ truy tố bị cáo Lê Tuấn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Đồng thời, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Lê Nhật D, Phạm Hải L, Ngô Vũ Hoàng T2.

Viện kiểm sát đề nghị:

  1. Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo D từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù.
    • - Xử phạt bị cáo L từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.
    • - Xử phạt bị cáo T từ 4 năm đến 5 năm năm tù.
    • - Xử phạt bị cáo T2 từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù.
  2. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa và số ma túy còn lại sau giám định. Tịch thu sung công 03 điện thoại di động và 01 tờ tiền.
  3. Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 21 giờ ngày 29/10/2022 đến 00 giờ 30 phút ngày 30/10/2022, tại căn nhà không số của Ngô Vũ Hoàng T2 thuê thuộc thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Bị cáo Lê Nhật D đã rủ Phạm Hải L góp tiền mua ma túy loại Ketamine (hay còn gọi là khay) để sử dụng và cung cấp cho Lê Tuấn T sử dụng chung, T không phải trả tiền ma túy; Ngoài ra, khoảng tháng 8/2022, Lê Nhật D rủ Lê Tuấn T góp tiền nhờ Trần Trọng Q mua ma túy loại Ketamine để sử dụng và cung cấp cho Phạm Hải L, Ngô Vũ Hoàng T2, Trần Trọng Q và Hồ Thị Anh T3 sử dụng chung, tuy nhiên L, T2, Q và T3 không phải trả tiền ma túy; Bên cạnh đó, vào khoảng tháng 6/2022 bị cáo Ngô Vũ Hoàng T2 đã cho bị cáo D, T và đối tượng Trần Trọng Q, Hồ Thị Anh T3 và 02 người bạn của Q (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) sử dụng trái phép chất ma tuý loại Ketamine tại nhà của T2 thuê thuộc thôn Đ, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (bị cáo T2 cùng tham gia sử dụng trái phép chất ma tuý); khoảng tháng 10/2022 (trước ngày 29/10/2022 một tuần), T2 tiếp tục cho bị cáo D, T và Q sử dụng trái phép chất ma tuý loại Ketamine tại nhà của T2 thuê ở trên; các lần sử dụng trái phép chất ma tuý không ai phải trả tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho bị cáo T2. Vì vậy, hành vi của bị cáo Lê Nhật D đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Phạm Hải L, Lê Tuấn T đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Hành vi của bị cáo Ngô Vũ Hoàng T2 đã phạm vào tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.

[2] Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi chứa chấp, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Vì ma túy là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động chứa chấp, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy; mặt khác, chứa chấp, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, trật tự an toàn xã hội. Trong đó, bị cáo T2 đã nhiều lần dùng địa điểm do bị cáo T2 quản lý cho các bị cáo và các đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma túy; Đối với bị cáo D là người rủ bị cáo T, L phạm tội và là người thực hành tích cực nhất nên có vai trò cao hơn bị cáo L và T.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự; Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Đối với bị cáo Lê Tuấn T được hưởng thêm tình tiết tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • [4.1] Tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 2323/KL-KTHS ngày 04/11/2022 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ; 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • [4.2] Đối với 03 điện thoại di động và 01 tờ tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[5] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[6] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự:
    1. Tuyên bố bị cáo Lê Nhật D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    2. Xử phạt bị cáo Lê Nhật D 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2022.
  2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự:
    1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hải L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    2. Xử phạt bị cáo Phạm Hải L 7 (bảy) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2022.
  3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự:
    1. Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    2. Xử phạt bị cáo Lê Tuấn T 4 (bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2022.
  4. Căn cứ vào điểm b, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
    1. Tuyên bố bị cáo Ngô Vũ Hoàng T2 phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
    2. Xử phạt bị cáo Ngô Vũ Hoàng T2 7 (bảy) năm 3 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2022.
  5. Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 2323/KL-KTHS ngày 04/11/2022 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ và 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa.
    • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước 03 điện thoại di động (kèm theo sim); 01 tờ tiền được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 2323/KL-KTHS ngày 04/11/2022 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ.
    • (Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/6/2023)
  6. Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Nhật D, Phạm Hải L, Lê Tuấn T, Ngô Vũ Hoàng T2 mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai ;
  • - VKSND H. Trảng Bom; tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra CAH. Trảng Bom;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - THA, Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2023/HS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 173/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lê Nhật Duy và đồng phạm phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger