Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 173/2025/HNGĐ-ST

Ngày : 12-3-2025

Về việc “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Nguyễn Hoàng Tuấn;
  • - Bà Trương Thị Thu Thuỷ.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Bích Hợp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 846/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kiều N, sinh năm 1960; địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Đặng Văn Đ, sinh năm 1952; địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trần Thị Kiều N trình bày như sau:

Bà N và ông Đ sống chung vào năm 1978, không có đăng ký kết hôn nhưng có tổ chức lễ cưới theo phong tục tạp quán địa phương. Sống chung được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do có nhiều quan điểm sống trái ngược nhau. Bà N và ông Đ đã ly thân từ năm 1996 cho đến nay, nay bà N yêu cầu ly hôn với ông Đặng Văn Đ

- Về con chung: Có 02 (Hai) con chung tên Đặng Thị Kiều T, sinh ngày 16/8/1989 và Đặng Thị Kiều P, sinh năm 1981 (đã chết). Hiện con chung tên Đặng Thị Kiều T, sinh ngày 16/8/1989 đã trưởng thành và có khả năng tự lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, tài sản chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đặng Văn Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Ông Đ thống nhất với bà N về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly thân từ năm 1996 đến nay, thống nhất vợ chồng không có đăng ký kết hôn. Bà N yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.

- Về con chung: Thống nhất theo lời bà N trình bày có 02 (Hai) con chung tên Đặng Thị Kiều T, sinh ngày 16/8/1989 và Đặng Thị Kiều P, sinh năm 1981 (đã chết). Hiện con chung tên Đặng Thị Kiều T, sinh ngày 16/8/1989 đã trưởng thành và có khả năng tự lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, tài sản chung: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Trần Thị Kiều N: Có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ yêu cầu ly hôn.

- Bị đơn ông Đặng Văn Đ: Có đơn xin xét xử vắng mặt và đồng ý ly hôn.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được được công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà N ông Đ chung sống vào năm 1978 không có đăng ký kết hôn. Quá trình Tòa án giải quyết ông Đ trình bày ý kiến thống nhất thời gian vợ chồng sống chung có mâu thuẫn, nay bà N yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý. Điều này cho thấy cuộc sống vợ chồng giữa bà N và ông Đ có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà N là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, cho bà N được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân giữa bà N và ông Đ có 02 (Hai) con chung tên Đặng Thị Kiều T, sinh ngày 16/8/1989 và Đặng Thị Kiều P, sinh năm 1981 (đã chết). Hiện con chung tên Đặng Thị Kiều T, sinh ngày 16/8/1989 đã trưởng thành và có khả năng tự lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Đề nghị xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Nguyên đơn có yêu cầu ly hôn, bị đơn ông Đặng Văn Đ có địa chỉ tại huyện C, tỉnh An Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà N và bị đơn ông Đ đều vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Kiều N

Theo lời trình bày của bà N: Giữa nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau vào năm 1978, không có đăng ký kết hôn. Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân trước ngày 03/01/1987 là hôn nhân thực tế. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Đ được pháp luật thừa nhận. Quá trình chung sống thời gian đầu chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau đó phát sinh mâu thuẫn vì do có nhiều quan điểm sống trái ngược nhau, vợ chồng đã ly thân từ năm 1996 đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà Trần Thị Kiều N và ông Đặng Văn Đ thì Ủy ban nhân dân xã M cung cấp thông tin bà N và ông Đ không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đặng Văn Đ trình bày ý kiến thống nhất thời gian vợ chồng sống chung có mâu thuẫn, nay bà N yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý, chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đinh năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Kiều N là có căn cứ và cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân giữa bà N và ông Đ có 02 (Hai) con chung tên Đặng Thị Kiều T, sinh ngày 16/8/1989 và Đặng Thị Kiều P, sinh năm 1981 (đã chết).

Xét thấy Đặng Thị Kiều P, sinh năm 1981 (đã chết), còn đối với con chung tên Đặng Thị Kiều T, sinh ngày 16/8/1989 hiện đã trưởng thành và có khả năng tự lao động được, bà N và ông Đ đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà N và ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[3] Về án phí: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thâm, không phụ thuộc vào việc Toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà Trần Thị Kiều N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 56, khoản 1, khoản 2 Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Kiều N. Bà Trần Thị Kiều N được ly hôn với ông Đặng Văn Đ.

2. Về con chung: Bà Trần Thị Kiều N và ông Đặng Văn Đ có 02 (Hai) con chung tên Đặng Thị Kiều T, sinh ngày 16/8/1989 và Đặng Thị Kiều P, sinh năm 1981 (đã chết).

Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Trần Thị Kiều N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0009249 ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Kiều N và ông Đặng Văn Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi Cục THA DS Châu Phú;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ YẾN ANH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 173/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger