Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 173/2024/HS-ST

Ngày 13 tháng 11 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam và ông Đặng Khoa Thi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 174/2024/TLST-HS, ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn H, sinh ngày 18/8/1982 (tên gọi khác Huy Đ) tại thành phố L, tỉnh An Giang. Cư trú: Số C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Y và bà Lê Thị Ú; vợ Lê Thị Kim V và có 03 con.

Về nhân thân: Ngày 10/7/2008 bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” đến ngày 30/8/2010 được đặt xá. Ngày 07/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” đến ngày 16/6/2016 chấp hành xong bản án.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

Nguyễn Trung T, sinh ngày 14/6/2001, tại thành phố L, tỉnh An Giang. Cư trú: Số F, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung K và bà Phạm Thị Thúy L; chưa có vợ.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

Bị hại: Tập Đoàn B (V1). Trụ sở: Số E phố H, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị L1, sinh năm 1959. Trú tại: Số B, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, Trần Văn H rủ Nguyễn Trung T đi lấy trộm dây cáp điện thoại của Tập Đoàn B. T đồng ý. Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 21 tháng 7 năm 2024, H điều khiển xe chở T đến khu vực T, phường M, thành phố L, T ngồi trên xe cảnh giới, H leo lên cột điện để cắt dây cáp điện thoại thì bị lực lượng Công an phường M tuần tra phát hiện mời T về trụ sở để làm việc. H đang trên cột điện, chưa kịp cắt dây cáp điện thoại, không bị phát hiện nên H lẫn trốn. Đến ngày 09 tháng 8 năm 2024, H đến Công an phường M đầu thú, khai nhận hành vi nhiều lần cùng T lấy trộm dây cáp điện thoại của V1 trên địa bàn thành phố L, bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Đầu tháng 6 năm 2024, H điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu xanh (không rõ biển số) chở T đến chân cầu N, khóm B, phường M. Tín cảnh giới, H dùng kìm cộng lực cắt lấy trộm 24m dây cáp điện thoại, nhãn hiệu Viễn thông Đ, quy cách 200 x 02 x 0.5mm, ruột đồng võ bọc P, loại cáp 200 đôi, đốt lấy lõi đồng, bán cho bà Hồ Thị L1 được 1.600.000 đồng, chia nhau mỗi người 800.000 đồng.

Vụ thứ hai: Cách vụ thứ nhất 07 ngày, cùng thủ đoạn trên địa bàn phường M. H cảnh giới, T cắt lấy trộm 03m dây cáp điện thoại, bán cho bà L1 được 600.000 đồng, chia nhau mỗi người 300.000 đồng.

Vụ thứ ba: Sau vụ thứ hai 03 ngày, cũng thủ đoạn và phương thức trên. Tại phường M, T đứng cảnh giới, H cắt lấy trộm 23m dây cáp điện thoại, nhãn hiệu như lần 1, bán cho bà L1 được 3.200.000 đồng, chia nhau mỗi người 1.600.000 đồng.

Vụ thứ tư: Sau vụ thứ ba 01 ngày, tại phường M, cách điểm lấy trộm lần thứ ba khoảng 100m. Tín cảnh giới, H cắt lấy trộm 20m dây cáp điện thoại, nhãn hiệu lần 1, bán cho bà L1 được 3.000.000 đồng, chia nhau mỗi người 1.500.000 đồng.

Bị hại Tập Đoàn B yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại số tiền 14.500.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ được:

  • - 01 đoạn dây cáp điện, loại 400 đôi, dài 1,2m; 01 đoạn dây cáp điện, loại 100 đôi, dài 1,1m và 01 đoạn dây cáp điện, loại 100 đôi, dài 0,8m; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Click, biển số 67C1-408.35, đã chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang giải quyết theo thẩm quyền.
  • - 01 bao nylon màu trắng - xanh có dòng chữ AQUAGREEN. 01 túi màu xanh bên trong có: 01 cây kìm cắt màu đen (loại kìm cộng lực), phần cán bao nhựa màu đen - cam; 02 cuộn băng keo màu đen; 01 cây kìm cán nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 cây dao rọc giấy cán màu xanh; 01 hộp nhựa màu xanh bên trong có 08 lưỡi dao bằng kim loại màu trắng; 04 thanh kim loại, mỗi thanh dài khoảng 20cm và 01 thanh kim loại tròn, dài khoảng 30cm.

Kết luận định giá tài sản số 1222/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố L, xác định giá trị tài sản các bị cáo trộm là 14.708.000 đồng.

Cáo trạng số 182/CT-VKSLX, ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, truy tố Trần Văn H, Nguyễn Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Đối với bị cáo H: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”,

Đối với bị cáo T: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo H và T phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Tập Đoàn B số tiền 14.500.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/11/2024.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H và T khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp dây cáp điện thoại của VNPT như nội dung cáo trạng truy tố. Các bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng là các bị cáo đã ăn năn, hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về với gia đình tái hòa nhập cộng đồng làm lại người tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của những người tham gia tố tụng nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Các bị cáo H, T lợi dụng đêm khuya, vắng người đã lén lút đến các trụ điện tại phường M, M và M thuộc địa bàn thành phố L dùng kìm cộng lực cắt dây cáp điện thoại để trộm dây cáp điện thoại của V1, đốt lấy lõi đồng, bán lấy tiền tiều xài cá nhân, tài sản trị giá 14.708.000 đồng. Hành vi và giá trị tài sản của các bị cáo trộm đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự có khung hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm tù (tội phạm ít nghiêm trọng).

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Tài sản hợp pháp của công dân là một trong những đối tượng được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác đều bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Các bị cáo đều là người đã thành niên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi, có sức khỏe để lao động làm ăn chân chính nuôi sống bản thân và gia đình, nhưng các bị cáo lười lao động, muốn có tiền nhanh để tiêu xài, mà không phải lao động, bất chấp pháp luật, biết trộm tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp người khác, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi nhưng bị cáo H là người có vai trò chính, là người đề xuất, rủ rê bị cáo T trộm tài sản. Bị cáo H có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội xâm phạm đến quyền sở hữu. Lẽ ra, sau khi được cải tạo, giáo dục bị cáo phải trở thành ngưới tốt, có ích cho gia đình và xã hội, nhưng bị cáo không sửa đổi, bị cáo lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo H có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú và đang nuôi 03 con nhỏ trong khi vợ bị cáo đang chấp hành án, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo T có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo T là người bị bị cáo H rủ rê thực hiện hành vi, bị cáo có nhân thân tốt không tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú và bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại số tiền 7.250.000 đồng (50% giá trị thiệt hại mà bị hại yêu cầu), đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, các bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo trộm dây cáp điện của V1 có giá trị là 14.708.000 đồng, nhưng VNPT yêu cầu bồi thường số tiền 14.500.000 đồng là lợi cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bị cáo H, T phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho VNPT số tiền 14.500.000 đồng (nghĩa vụ theo phần là bị cáo H, T mỗi người có trách nhiệm bồi thường cho VNPT số tiền 7.250.000 đồng).

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 đoạn dây cáp điện, loại 400 đôi, dài 1,2m; 01 đoạn dây cáp điện, loại 100 đôi, dài 1,1m và 01 đoạn dây cáp điện, loại 100 đôi, dài 0,8m; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Click, biển số 67C1-408.35, đã chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang giải quyết theo thẩm quyền, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - 01 bao nylon màu trắng - xanh có dòng chữ AQUAGREEN; 01 túi màu xanh bên trong có: 01 cây kìm cắt màu đen (loại kìm cộng lực), phần cán bao nhựa màu đen - cam; 02 cuộn băng keo màu đen; 01 cây kìm cán nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 cây dao rọc giấy cán màu xanh; 01 hộp nhựa màu xanh bên trong có 08 lưỡi dao bằng kim loại màu trắng; 04 thanh kim loại, mỗi thanh dài khoảng 20cm và 01 thanh kim loại tròn, dài khoảng 30cm, là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, nay không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị L1 khi mua dây đồng không biết tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự bà L1 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.

[9.] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 (năm) 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 09/8/2024).

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 21/7/2024).

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 5 Điều 8, 13, 170, 275, 287, 288, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Trung T phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho Tập Đoàn B số tiền 14.500.000 đồng (nghĩa vụ theo phần của mỗi bị cáo là 7.250.000 đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 bao nylon màu trắng - xanh có dòng chữ AQUAGREEN; 01 túi màu xanh bên trong có: 01 cây kìm cắt màu đen (loại kìm cộng lực), phần cán bao nhựa màu đen - cam; 02 cuộn băng keo màu đen; 01 cây kìm cán nhựa màu đỏ; 01 cây dao rọc giấy cán màu xanh; 01 hộp nhựa màu xanh bên trong có 08 lưỡi dao bằng kim loại màu trắng; 04 thanh kim loại, mỗi thanh dài khoảng 20cm và 01 thanh kim loại tròn, dài khoảng 30cm (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/11/2024).

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • - Bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Trung T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Bị cáo Trần Văn H và Nguyễn Trung T phải liên đới chịu 725.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - Nhà tạm giữ CA.TPLX;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều

9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Lê Thị Hồng Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 173/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Trung T về tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger