Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2024/HS-ST

Ngày: 06/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Ngọc Triệu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phước Lộc

Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 168/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

* Huỳnh Quốc T, sinh ngày 01/01/1989; Tại: T, Cà Mau;

Nơi ĐKTT: ấp 5, xã Tân Lập Đông, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở: ấp Lê Bát, xã Cửa Cạn, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Con ông Huỳnh Văn D và bà Vũ Thị H; Em: 02 người, sinh năm 1990 và sinh năm 1991; Vợ Nguyễn Thị C, sinh năm 1999; Con: 01 người, sinh năm 2018

Tiền án, tiền: Chưa.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 7/2022, Huỳnh Quốc T xin làm việc tại Công ty cổ phần A tại ấp L, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình làm việc tại đây, T biết được Công ty có chính sách hổ trợ 1.000.000 đồng một tháng cho nhân viên có đăng ký tạm trú trên địa bàn xã C. Do Triều chưa đăng ký thường trú tại xã C, nên T nảy sinh ý định đặt làm giả 02 giấy thông báo về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú của Công an xã C để bổ sung hồ sơ. Đến đầu tháng 02/2023, T sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO của T lên mạng xã hội Facebook liên hệ với một người đàn ông không rõ nhân thân cung cấp thông tin đặt làm giả 02 giấy Thông báo đăng ký cư trú của Công an xã C, thành phố P với giá 300.000 đồng. Sau khi nhận được 02 giấy Thông báo đăng ký cư trú giả số 000732/TB ngày 18/02/2023 của Công an xã C. Triều lấy 01 tờ giấy Thông báo giả bổ sung vào hồ sơ xin việc của Công ty và được hưởng 1.500.000 đồng tiền trợ cấp nhà trọ của Công ty cổ phần A, tờ còn lại Triều cất giữ. Do Công ty tạm dừng hoạt động nên T không làm việc nửa. Đến ngày 27/9/2023, T mang hồ sơ đến Công an xã C xin xác nhận hạnh kiểm để xin việc làm mới. Trong hồ sơ có giấy thông báo trước đó T đặt làm giả còn lại thì bị Công an xã C phát hiện và thu giữ. Ngày 06/3/2024, Huỳnh Quốc T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra (Bút lục số: 52, 54, 56, 58, 60, 62, 64, 66, 68 và 70).

Bị can phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố bị can thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

  • 02 (hai) giấy Thông báo về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú số 000732/TB ngày 18/02/2023 của Công an xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (đã lưu giữ tromng hồ sơ vụ án)
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, reno8, kiểu máy: CPH 246, Ram 08 GB, màu vàng đen, đã qua sử dụng.
  • Tiền Việt Nam 1.500.000đ.

* Tại bản kết luận giám định số 1321/KL-KTHS ngày 29/12/20232, của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:

  1. Hình dấu tròn mang nội dung “CÔNG AN XÃ CỬA CẠN * CÔNG AN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG" trên mẫu cần giám định kí hiệu A1 và A2 không phải do con dấu có hình dấu trên mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 đóng ra.
  2. Chữ ký đứng tên Phùng Văn N trên mẫu cần giám định ký hiệu Al và A2 so với chữ ký đứng tên Phùng Văn N trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M12 không phải do cùng một người ký ra.
  3. 02 (hai) giấy Thông báo về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú, cùng đề ngày 18/02/2023 (ký hiệu A1 và A2) là giả.

Bản cáo trạng số 167/CT-VKSPQ ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Huỳnh Quốc T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự;

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội, thay đổi quan điểm và rút một phần truy tố bị cáo Huỳnh Quốc T từ tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Huỳnh Quốc T 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • T1 1.500.000đ đã trả cho Công ty cổ phần A
  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, reno8, kiểu máy: CPH 246, Ram 08 GB, màu vàng đen, đã qua sử dụng.

Đối với người đàn ông chưa rõ nhân thân giúp sức cho T làm giả 02 giấy thông báo về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú. Cơ quan điều tra Công an thành P đang tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần A. Người đại diện theo uỷ quyền ông Phạm Hoàng G có đơn xin vắng mặt và có ý kiến: về trách nhiệm dân sự Công ty A không có yêu cầu bồi thường; về trách nhiệm hình sự: đề nghị xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng viện kiểm sát truy tố và lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Quốc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã đủ căn cứ để kết luận: Vào đầu tháng 02/2023, Huỳnh Quốc T lên mạng xã hội cung cấp thông tin đặt làm 02 giấy Thông báo về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú giả của Công an xã C, thành phố P với giá 300.000 đồng. Sau đó T lấy 01 giấy Thông báo giả bổ sung vào hồ sơ xin việc tại Công ty cổ phần A tại ấp D, xã C, thành phố P và hưởng 1.500.000 đồng tiền trợ cấp của Công ty. Đến ngày 27/9/2023, T lấy giấy Thông báo giả đặt làm trước đó còn lại bỏ vào hồ sơ xin việc mang đến Công an xã C xin xác nhận hạnh kiểm thì bị Công an xã C, thành phố P phát hiện và thu giữ. Ngày 06/3/2024, Huỳnh Quốc T bị Cơ quan điều tra Công an thành phố P khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.

Như vậy cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự và tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát thay đổi quan điểm rút một phần truy tố bị cáo T và truy tố bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông chưa rõ nhân thân giúp sức cho T làm giả 02 giấy thông báo về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú. Cơ quan điều tra Công an thành P đang tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Xét bị cáo T có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; trong thời gian bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo đã chấp hành tốt pháp luật; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội theo Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ nghiêm khắc để giáo dục cải tạo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Xét thấy bị cáo T hiện không có việc làm thu nhập không ổn định, nên xét miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • T1 1.500.000₫ đã trả cho Công ty cổ phần A, Hội đồng xét xử miễn xét.
  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, reno8, kiểu máy: CPH 246, Ram 08 GB, màu vàng đen, đã qua sử dụng.

[6] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên về phần hình phạt đề nghị của Viện kiểm sát có phần nghiêm khắc đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng hình phạt theo Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Quốc T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: Huỳnh Quốc T 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Cà Mau nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Huỳnh Quốc T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Huỳnh Quốc T

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • T1 1.500.000₫ đã trả cho Công ty cổ phần A, Hội đồng xét xử miễn xét.
  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, reno8, kiểu máy: CPH 246, Ram 08 GB, màu vàng đen, đã qua sử dụng. (Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/11/2024).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần A không có yêu cầu gì khác, Hội đồng xét xử miễn xét.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Huỳnh Quốc T nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai báo cho bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND thành phố Phú Quốc;
  • - Công an thành phố Phú Quốc (CQTHAHS, CQĐT, NTG; ĐTH);
  • - Chi cục THADS thành phố Phú Quốc;
  • - Bị cáo; NLQ
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Ngọc Triệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"

  • Số bản án: 173/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triều sử dụng tài liệu giả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger