|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 173/2024/DS-ST
Ngày: 25-9-2024
V/v: “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hòe.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Phạm Văn Lịch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 128/2023/TLST- DS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1967. Địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1962. Địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Vũ Thị Đ, sinh năm 1981. Địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Anh Vũ Văn T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Chị Vũ Thị H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Người đại diện theo sự uỷ quyền của bà Trần Thị N, chị Vũ Thị Đ, anh Vũ Văn T1: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
(Ông T có mặt; chị H vắng mặt có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/7/2023 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Hoàng Văn T trình bày:
Ông Vũ Văn T2 nguyên là xóm trưởng xóm 1 xã H đã nhiều năm. Đầu năm 2022, ông T2 nhờ ông T vay 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) để lấy tiền đổ đường nội đồng xóm A. Vì tin tưởng ông T2 nên ông T đã vay của Quỹ tín dụng nhân dân xã H số tiền 300.000.000đ cho ông T2 vay lại. Sau khi nhận tiền vay, ông T2 đã viết biên nhận nội dung: “Ông T2 nhờ ông T vay số tiền 300.000.000đ, thời hạn vay từ ngày 30/2/2022 đến ngày 30/2/2023”, ông T giữ bản gốc. Mặc dù không ghi vào giấy biên nhận thỏa thuận về lãi nhưng ông T2 nhận trả lãi cho ông T theo mức lãi suất vay tại Quỹ tín dụng là 0,85%/tháng. Ông T2 đã trả tiền lãi theo thỏa thuận cho ông T đến hết tháng 3/2023.
Ngày 24/4/2023, ông T2 chết không để lại di chúc. Chiều ngày 27/4/2023, vợ và con gái ông T2 là bà Trần Thị N, chị Vũ Thị H đến nhà trả cho ông T tiền lãi tháng 4/2023 là 3.000.000đ đồng thời viết giấy nhận nợ với ông T. Do bà N và chị H đã nhận nợ nhưng lại không trả khoản tiền ông T2 còn nợ cho ông T nên ông T đã khởi kiện yêu cầu Toà án buộc những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của ông T2 phải thực hiện nghĩa vụ do ông T2 chết để lại, trả cho ông T số tiền vay gốc 300.000.000đ và tiền lãi theo thỏa thuận là 0,85%/tháng kể từ 01/5/2023 cho đến khi trả xong nợ gốc. Sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, ông T2 làm đơn trình bày: Do tài sản ông T2 để lại không đủ để trả nợ nên đề nghị Tòa án buộc chị H phải có nghĩa vụ trả khoản nợ gốc và lãi của ông T2 cho ông T do chị H đã viết cam kết vào ngày 27/4/2023.
*Tại bản tự khai ngày 25/01/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn bà Trần Thị N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm chị Vũ Thị Đ, anh Vũ Văn T1, chị Vũ Thị H cùng ý kiến trình bày:
Ngày 30/02/2023, ông Vũ Văn T2 có vay của ông Hoàng Văn T số tiền 300.000.000đ để chi trả cho việc làm đường nội đồng của xóm. Do chưa thu được tiền từ các hộ dân trong xóm, công việc làm ăn của gia đình cũng không thuận lợi nên ông T2 chưa trả được nợ gốc mà mới chỉ trả tiền lãi theo thỏa thuận đến hết tháng 3/2023. Ngày 24/4/2023, ông T2 chết không để lại di chúc. Sau khi lo đám tang cho ông T2, bà N và chị H đã đến nhà ông T công nhận số tiền ông T2 còn nợ, nhận có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ do ông T2 chết để lại theo quy định pháp luật. Chị H và bà N cũng đã trích từ tiền thăm hỏi, phúng viếng ra số tiền 3.000.000đ để trả lãi tháng 4/2023 cho ông T. Do khoản tiền 300.000.000đ ông T2 vay của ông T, chị H không vay lại để sử dụng hoặc chi tiêu riêng nên không đồng ý
chuyển nghĩa vụ từ ông T2 sang nghĩa vụ riêng của chị H. Chị H, bà N, chị Đ, anh T1 nhận thực hiện nghĩa vụ do ông T2 chết để lại theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu phát biểu ý kiến:
Căn cứ Điều 21, Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 463, 465, 466, 611, 613, 614, 615 và khoản 3 Điều 623, Điều 651 Bộ luật Dân sự; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Hoàng Văn T. Buộc bà Vũ Thị N1, chị Vũ Thị Đ, anh Vũ Văn T1, chị Vũ Thị H phải trả ông Hoàng Văn T tiền nợ gốc 300.000.000đ và tiền lãi mức 0,85%/tháng kể từ 01/5/2023 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Nghĩa vụ này của bà N1, chị Đ, anh T1, chị H được thực hiện trong phạm vi di sản do ông Vũ Văn T2 chết để lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị N, anh Vũ Văn T1, chị Vũ Thị Đuỷ quyền toàn bộ cho chị Vũ Thị H. Chị H đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N, chị Đ, anh T1, chị H theo quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Hoàng Văn T:
Nguyên đơn ông Hoàng Văn T yêu cầu những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Vũ Văn T2 gồm bà Trần Thị N, chị Vũ Thị Đ, anh Vũ Văn T1, chị Vũ Thị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ ông T số tiền vay gốc là 300.000.000đ và lãi theo thỏa thuận là 0,85%/01 tháng kể từ ngày 01/5/2023 đến nay. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của mình là giấy biên nhận bản gốc ghi ngày 30 tháng 02 năm 2022 dương lịch có chữ ký của ông Vũ Văn T2. Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị H công nhận ông Vũ Văn T2 còn nợ của ông Hoàng Văn T nợ gốc 300.000.000đ và lãi 0,85%/tháng đến hết tháng 3/2023.
Căn cứ giấy biên nhận tiền bản gốc do ông T cung cấp có chữ ký của ông T2 và lời khai của các đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 30 tháng 02 năm 2022 dương lịch, ông T cho ông T2 vay số tiền 300.000.000đ, thỏa thuận thời hạn thanh toán đến ngày 30 tháng 02 năm 2023, lãi suất 0,85%/tháng là sự việc có thật. Hợp đồng vay tài sản giữa ông T và ông T2 lập ngày 30 tháng 02 năm 2022 dương lịch là hợp đồng vay có lãi, có thời hạn thanh toán theo quy
định tại các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015. Quá trình thực hiện hợp đồng, chị H là con gái ông T2 đã trả thêm cho ông T2 01 tháng tiền lãi bằng số tiền 3.000.000đ vào ngày 127/4/2023 dương lịch, chưa trả gốc. Ngày 24/04/2023 ông T2 chết không để lại di chúc; bố mẹ đẻ ông T2 chết trước ông T2 nên bà Trần Thị N, chị Vũ Thị Đ, anh Vũ Văn T1 và chị Vũ Thị H (vợ và các con của ông T2) có các quyền, nghĩa vụ tài sản do ông T2 để lại theo quy định pháp luật. Yêu cầu của ông T về việc buộc bà N, chị Đ, anh T1, chị H phải trả tiền vay gốc 300.000.000đ và tiền lãi theo thỏa thuận 0,85%/tháng kể từ 01/5/2023 đến khi trả xong nợ gốc là hợp pháp, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Nghĩa vụ của bà N, chị Đ, anh T1, chị H được thực hiện trong phạm vi di sản do ông T2 chết để lại.
Đối với yêu cầu khác của ông T, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H không thỏa thuận vay, không nhận tiền vay từ ông T, không mượn tiền của ông T2 để chi tiêu cá nhân. Quá trình giải quyết vụ án, chị H không công nhận việc chuyển nợ giữa ông T2, ông T và chị H như ông T yêu cầu; ông T không chứng minh được việc chị H sử dụng chi tiêu số tiền 300.000.000đ ông T đã đưa cho ông T2. Giấy biên nhận ngày 27/4/2023 chị H chỉ công nhận ông T2 có vay của ông T số tiền gốc 300.000.000đ và lãi suất như ông T trình bày, nhận có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại theo quy định pháp luật. Văn bản này không phải hợp đồng chuyển giao quyền và nghĩa vụ giữa ba bên gồm ông T2, ông T, chị H. Việc chị H và bà N đã trả cho ông T số tiền 3.000.000đ tiền lãi cũng không đương nhiên đồng nghĩa với việc chuyển nợ; khoản tiền lãi này được trích từ tiền làm ma cho ông T2 để trả nên cũng được xác định là việc thực hiện nghĩa vụ do chết để lại. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông T về việc chuyển nghĩa vụ trả nợ từ ông T2 sang cho chị H và buộc cá nhân chị H phải trả nợ cho ông T2 số tiền gốc và lãi kể trên.
[3] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị đơn là người cao tuổi, có đơn xin miễn nên chia phần và xét miễn án phí cho bị đơn. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp phần án phí còn lại sau khi trừ phần đã miễn cho bị đơn; nghĩa vụ này được thực hiện trong phạm vi di sản do ông T2 để lại.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 357, 463, 465, 466, 611, 613, 614, 615, 623, 651 Bộ luật Dân sự; các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Văn T đối với bà Trần Thị N, chị Vũ Thị Đ, anh Vũ Văn T1, chị Vũ Thị H về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”. Không chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Văn T về việc buộc chị Vũ Thị H phải có trách nhiệm trả nợ ngoài phạm vi thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại.
- Buộc bà Trần Thị N, anh Vũ Văn T1, chị Vũ Thị Đ, chị Vũ Thị H phải trả nợ cho ông Hoàng Văn T số tiền nợ gốc là 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng), và tiền lãi tính từ ngày 01/5/2023 đến ngày 25/9/2024 là 42.925.000đ (bốn hai triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng); tổng cộng 342.925.000đ (ba trăm bốn mươi hai triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Nghĩa vụ này được thực hiện trong phạm vi di sản ông Vũ Văn T2 chết để lại.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 13; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
- - Miễn án phí cho bà Trần Thị N. Anh Vũ Văn T1, chị Vũ Thị Đ, chị Vũ Thị H phải nộp 12.859.000 (mười hai triệu, tám trăm năm mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nghĩa vụ này được thực hiện trong phạm vi di sản ông Vũ Văn T2 chết để lại.
- - H1 lại ông Hoàng Văn T số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông T đã nộp tại biên lai số 0002817 ngày 13-10-2023 và biên lai số 0002818 ngày 13-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà N2, chị H, chị Đ, anh T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự;
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hòe |
Bản án số 173/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
- Số bản án: 173/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: êu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại giữa ông T và bà N
