|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 173/2024/HS - ST Ngày: 24-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chánh Bổn và ông Trần Quang Thuần
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 152/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 150/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024.
1.Điểm cầu nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
Bị cáo: Nguyễn Thành N, sinh năm 2001 tại Tây Ninh . Giới tính: Nam
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; con ông Nguyễn Văn L – sinh năm 1975 và con bà Phạm Thị Kim P – sinh năm 1976. Bị cáo là con duy nhất trong gia đinh
Vợ; con: Chưa có
* Tiền án, Tiền sự: Không.
* Về nhân thân:
- Tại Bản án số 360/2020/HS-ST ngày 17/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xử phạt Nguyễn Thành N 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2021. Nộp án phí Hình sự sơ thẩm ngày 07/10/2021.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/3/2024.
2. Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Định Quán :
Bị hại: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm: 2001
Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
( có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành N là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.
Vào khoảng 08 giờ ngày 04/3/2024, N đi bộ đến khu vực ấp T, xã P tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Khi N đi qua tiệm N2 thì phát hiện bên trong sân tiệm Nét có để 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria, biển số 60H6 – 005.42 của anh Nguyễn Minh T, nên N đi vào tiệm N1 chơi game và chờ cơ hội để trộm cắp xe mô tô trên. Sau khi chơi game được một lúc thì N quan sát thấy xe mô tô không có người trông coi nên N đi ra và trộm cắp xe mô tô trên. Do xe không có chìa khóa nên N dắt bộ xe đến nhà anh Vũ Nguyễn Hoàng L1 - sinh năm 2003, tại ấp T, xã P (là bạn của N) cất giấu.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Thành N bị bắt giữ cùng tang vật.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ, Nguyễn Thành N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân
* Tài sản thiệt hại:
- - 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria, biển số 60H6 – 005.42
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, kết luận: Giá trị tài sản thiệt hại là 19.000.000 đồng.
- - 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria, biển số 60H6 – 005.42, thuộc sở hữu của anh Nguyễn Minh T. Hiện đã trao trả cho chủ sở hữu, anh T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Đối với anh Vũ Nguyễn Hoàng L1. Khi Nguyễn Thành N mang xe mô tô trộm cắp được về nhà anh L1 cất giấu thì anh L1 không có ở nhà nên không biết hành vi trộm cắp tài sản của N. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh L1.
Ngày 04/3/2024, khi Nguyễn Thành N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bị Camera an ninh của tiệm N2 quay lại. Cơ quan điều tra đã trích xuất, lưu vào đĩa DVD để nhận dạng nên lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 291/CT-VKSĐQ ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Nguyễn Thành N về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Nhân T1 01(một) năm 06(sáu) tháng đến 02(hai) năm.
Về trách nhiệm dân sự:
- - 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria, biển số 60H6 – 005.42, thuộc sở hữu của anh Nguyễn Minh T. Hiện đã trao trả cho chủ sở hữu, anh T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Các vần đề khác:
Đối với anh Vũ Nguyễn Hoàng L1. Khi Nguyễn Thành N mang xe mô tô trộm cắp được về nhà anh L1 cất giấu thì anh L1 không có ở nhà nên không biết hành vi trộm cắp tài sản của N. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh L1.
Ngày 04/3/2024, khi Nguyễn Thành N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bị Camera an ninh của tiệm N2 quay lại. Cơ quan điều tra đã trích xuất, lưu vào đĩa DVD để nhận dạng nên lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về vật chứng vụ án và án phí.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Quang T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 08 giờ ngày 04/3/2024, tại ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thành N đã có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô hiệu Suzuki Satria, biển số 60H6 – 005.42 của anh Nguyễn Minh T. Giá trị tài sản thiệt hại là 19.000.000 đồng. Hành vi do bị cáo Nguyễn Thành N thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 291/CT-VKSĐQ ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Nguyễn Thành N về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được rằng tài sản của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi của bất kỳ người nào xâm hại đến đều bị pháp luật xử phạt nghiêm minh. Tuy nhiên, do ý thức coi thường pháp luật, xem nhẹ tài sản của người khác nên bị cáo đã thực hiện hành lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo ngoài việc xâm hại đến tài sản còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu
[5] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội nên cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
- – 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria, biển số 60H6 – 005.42, thuộc sở hữu của anh Nguyễn Minh T. Hiện đã trao trả cho chủ sở hữu, anh T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Các vấn đề khác:
Đối với anh Vũ Nguyễn Hoàng L1. Khi Nguyễn Thành N mang xe mô tô trộm cắp được về nhà anh L1 cất giấu thì anh L1 không có ở nhà nên không biết hành vi trộm cắp tài sản của N. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh L1 là đúng quy định.
Ngày 04/3/2024, khi Nguyễn Thành N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bị Camera an ninh của tiệm N2 quay lại. Cơ quan điều tra đã trích xuất, lưu vào đĩa DVD để nhận dạng nên lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
[6] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thì án phí trong vụ án được giải quyết như sau: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải bồi thường thiệt hại
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 01(một) năm 06(sáu) tháng tù
Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2024.
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thành N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thịnh |
Bản án số 173/2024/HS - ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 173/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành N - trộm cắp tài sản
