|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 173/2024/HNGĐ – ST
Ngày: 18/9/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đức Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên và ông Trần Thanh Việt
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phan Ý Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số số 427/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 578/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 554/2024/QĐST – HNGĐ, ngày 21/8/2024, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Số C, khóm Đ, phường M, thành phố L, An Giang.
Chỗ ở hiện nay: Số C, khóm Đ, phường M, thành phố L, An Giang.
+ Bị đơn: Ông Mã Thanh P, sinh năm 1993
Địa chỉ: Số C, khóm Đ, phường M, thành phố L, An Giang.
(Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông P vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 07/6/2024, trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:
1.Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông P tự tìm hiểu sau đó tiến tới hôn nhân vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M vào ngày 29/8/2016. Sau khi chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông P thường xuyên cờ bạc, gây nợ nần và không chăm lo cho gia đình. Bà T nhận thấy vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.
2.Về quan hệ con chung: Có hai con chung tên Mã Ngọc T1, sinh ngày 03/10/2015 và Mã Thanh K, sinh ngày 08/02/2022. Con chung hiện nay bà T đang nuôi dưỡng, sau khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông P cấp dưỡng.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Mã Thanh P vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
* Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:
- + Bà Nguyễn Thị Thu T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- + Ông Mã Thanh P vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
- + Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa
Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, đề nghị:
Áp dụng các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Mã Thanh P.
Về con chung: Giao 02 cháu Mã Ngọc T1, Mã Thanh K cho bà Nguyễn Thị Thu T nuôi dưỡng. Ông P không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Thu T với ông Mã Thanh P là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại số C, khóm Đ, phường M, thành phố L, An Giang. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông Mã Thanh P theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông P vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay. Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông P.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông P tự tìm hiểu sau đó tiến tới hôn nhân vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M vào ngày 29/8/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông P thường xuyên cờ bạc, gây nợ nần và không chăm lo cho gia đình. Bà T nhận thấy vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.
[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng động viên bà T và tạo thêm thời gian để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, bà T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn vì từ khi vợ chồng ly thân đến nay mặc dù đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng giữa vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Từ đó, có thể nhận thấy ông P không còn quan tâm đến hôn nhân của mình, mặt khác tình cảm của bà T dành cho vợ không còn, tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn với ông P.
[2.3] Về con chung: Bà T và ông P có 02 con chung tên Mã Ngọc T1, sinh ngày 03/10/2015 và Mã Thanh K, sinh ngày 08/02/2022, con chung hiện nay đang sống với bà T. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, cháu Mã Ngọc T1, sinh ngày 03/10/2015 và Mã Thanh K, sinh ngày 08/02/2022 hiện nay do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, mặt khác cháu T1 cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó nhằm đảm bảo ổn định về tinh thần và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao cháu Mã Ngọc T1, sinh ngày 03/10/2015 và Mã Thanh K, sinh ngày 08/02/2022 cho bà T tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục.
Bà Nguyễn Thị Thu T và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông Mã Thanh P được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Thu T không yêu cầu ông Mã Thanh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[2.5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này, các bên phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 179; khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 273 và khoản 1 Điều 280; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T. Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Mã Thanh P.
- - Về con chung: Giao cháu Mã Ngọc T1, sinh ngày 03/10/2015 và Mã Thanh K, sinh ngày 08/02/2022 cho bà T tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục.
Bà Nguyễn Thị Thu T và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông Mã Thanh P được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
- - Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002338 ngày 10 tháng 7 năm 2004 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà Nguyễn Thị Thu T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đức Anh |
Bản án số 173/2024/HNGĐ – ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 173/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu ly hôn ông P
