|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 173/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 6 - 2024.
V/v tranh chấp “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Bà Trần Thị Đổi.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 406/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 04 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng H, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp 1A, xã H, huyện Đ, tỉnh L.
Bị đơn: Ông Đỗ Quang V, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 02 tháng 4 năm 2024 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn là bà Nguyễn Hồng H trình bày: Bà và ông Đỗ Quang V chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh L. Trong quá trình chung sống, ông V không quan tâm, lo lắng gia đình và các con. Hiện nay, ông V không có việc làm ổn định, nhiều lần cờ bạc dẫn đến nợ nần, ảnh hưởng xấu đến các con. Ông bà đã ly thân nhau từ năm 2022 cho đến nay. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên bà xin ly hôn với ông Đỗ Quang V.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông bà có hai con chung tên là Đỗ Ngọc Bảo Lam, sinh ngày 15/8/2011 và Đỗ Tiến Đạt, sinh ngày 30/3/2015. Hai con hiện đang sống chung với bà. Khi ly hôn, bà xin nuôi con, yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng/con. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 6/2024 cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, bà Nguyễn Hồng H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng ông Đỗ Quang V vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bà Nguyễn Hồng H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ Quang V, ông V hiện thường trú tại ấp Bình Tả 2, xã Đ Hạ, huyện Đ, tỉnh Long nên Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Hồng H xin vắng mặt; bị đơn ông Đỗ Quang V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hồng H và ông Đỗ Quang V chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ Hạ, huyện Đ, tỉnh L nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Thấy rằng, trong quá trình chung sống, bà H cho rằng, cuộc sống của ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do ông V không quan tâm gia đình và các con, hai con do một tay bà nuôi dưỡng từ nhỏ đến lớn và hiện đang sống cùng với bà. Hiện nay, chồng bà không có việc làm ổn định, nhiều lần cờ bạc dẫn đến nợ nần, ảnh hưởng xấu đến các con. Đối với ông V, từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định, biết được yêu cầu khởi kiện của bà H nhưng ông V không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà H. Tại phiên tòa, ông V vẫn vắng mặt, chứng tỏ không có thiện chí để hàn gắn, trong khi vợ chồng mâu thuẫn nên đã ly thân nhau từ năm 2022 cho đến nay. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng của ông bà không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của bà H và ông V là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về con chung và cấp dưỡng: Bà H trình bày bà và ông V chung sống có hai con chung tên Đỗ Ngọc Bảo L, sinh ngày 15/8/2011 và Đỗ Tiến Đ, sinh ngày 30/3/2015. Hai con hiện đang sống với bà H. Khi ly hôn, bà H xin được quyền nuôi hai con chung. Đối với ông V, dù đã được thông báo về yêu cầu của bà H đối với con chung nhưng ông V vẫn không đến Tòa án, cũng không có văn bản phản hồi ý kiến gửi Tòa án.
Xét thấy, từ khi bà H và ông V xa nhau đến nay, bà H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, bà vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường của các con chung. Đồng thời, cháu Bảo L là con gái, cần có sự chăm sóc, gần gũi của người mẹ. Ngoài ra, hai cháu trên 07 tuổi, đều có nguyện vọng sống chung với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao hai con chung Bảo L và Tiến Đ cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà H yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi mỗi con mỗi tháng 3.000.000đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Xét thấy, ông V nhận được thông báo về yêu cầu của bà H về vấn đề cấp dưỡng nhưng ông V vẫn không đến Tòa án, cũng không có văn bản phản hồi ý kiến gửi Tòa án. Tuy nhiên, cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con được quy định tại Điều 110 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và mức cấp dưỡng nuôi con được quy định tại Điều 116 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên cần buộc ông V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung L, Đ với số tiền là 1.170.000đồng/tháng/con (Một triệu một trăm bảy chục ngàn đồng, trên một tháng, cho một con), thời gian bắt đầu cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2024 đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
[5]. Về tài sản chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông V không có văn bản phản hồi ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu ông V có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
[6]. Về nợ chung: Bà H trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông V không có văn bản phản hồi ý kiến về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu ông V có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
[7]. Về án phí: Bà Nguyễn Hồng H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 5, Điều 81, Điều 82, 83, 84, 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng H đối với ông Đỗ Quang V về việc “Ly hôn”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hồng H được ly hôn với ông Đỗ Quang V.
- Về con chung: Bà Nguyễn Hồng H được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Đỗ Ngọc Bảo L, sinh ngày 15/8/2011 và Đỗ Tiến Đ, sinh ngày 30/3/2015. Ông Đỗ Quang V phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.170.000đồng/tháng/con (Một triệu một trăm bảy chục ngàn đồng, trên một tháng, cho một con). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Hồng H trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét đến. Nếu ông V có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Hồng H trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét đến. Nếu ông V có tranh chấp nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Hồng H chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. Bà H được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0000700 ngày 02/04/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh L để thi hành.
Ông V phải chịu 300.000đồng án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông V có trách nhiệm nộp số tiền này tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ, tỉnh L.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 173/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 173/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H ly hôn V