Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2023/HSST

Ngày 22/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Mạnh Nam và bà Đỗ Thị Thu Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Dương – Kiểm sát viên

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sư thụ lý số 158/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2023/QĐXX-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, đối với:

Bị cáo Bùi Đức Đ, sinh ngày 06 tháng 7 năm 1966, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 06/10; Bố đẻ: ông Bùi Đức Đ1; mẹ đẻ: bà Nguyễn Thị G (đều đã chết). Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1971. Có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1994 hiện sinh sống tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định số 63 ngày 22/11/1983 Ủy ban nhân dân tỉnh T quyết định đưa Đ đi tập trung cải tạo 03 năm về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân, chấp hành xong ngày 12/11/1986; Bản án số 26/HSST ngày 15/8/2002 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 12 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2003, thi hành xong án phí ngày 04/4/2006; Bản án số 97/2012/HSST ngày 20/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 08 tháng tù về tội Đánh bạc, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/12/2013, thi hành xong án phí ngày 13/11/2012, được miễn chấp hành hình phạt bổ sung ngày

23/11/2016; Bản án số 13/2018/HS-ST ngày 26/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/12/2019, thi hành xong án phí ngày 27/4/2018 và thi hành xong tiền nộp tịch thu sung quỹ nhà nước ngày 09/4/2018; Bản án số 79/2020/HSST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2021, thi hành xong án phí ngày 05/01/2021. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2023 đến ngày 07/6/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Được dẫn giải có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến:

- Ông Bùi Hữu T1, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1964 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tai liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 30 phút ngày 03/06/2023, tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình làm nhiệm vụ tuần tra tại thôn N, xã H, huyện T phát hiện Bùi Đức Đ đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác đã yêu cầu Bùi Đức Đ dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Bùi Hữu T1 và bà Nguyễn Thị T2. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện tại túi quần bên trái phía trước Đệ đang mặc có 07 túi nilon trong suốt có gờ cài viền màu đỏ, trong đó 01 túi có kích thước (7x5)cm và 06 túi nilon có kích thước (2x1,5)cm, bên trong cả 07 túi đều chứa chất dạng tinh thể trong suốt. Đ khai đó là 07 túi ma túy đá, Đ mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu S, thành phố Hải Phòng với giá 10.000.000 đồng vào buổi chiều cùng ngày, Đ mang đi bán kiếm lời. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong 07 túi nilon của Đ bằng cách cho vào 01 phong bì thư rồi dán kín, trên các mép dán có chữ ký của Đ và những người tham gia niêm phong đồng thời tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Đức Đ tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình thu giữ 01 cân điện tử màu đen ở dưới nền nhà trong gầm giường phòng ngủ của Đ, 01 túi nilon trong suốt có gờ cài, bên trong có 10 túi nilon trong suốt có gờ cài viền màu đỏ ở dưới chiếu giường ngủ

và 01 mảnh nhựa màu đen là dụng cụ để cân, phân chia ma túy để bán kiếm lời.

Bản kết luận giám định số 840/KL-KTHS ngày 05/06/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Vật chứng trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 9,6518 gam.

Cáo trạng số 159/CT-VKSTT ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội: Đề nghị tuyên bố Bùi Đức Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị áp dụng điểm i, khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù; Phạt bổ sung bị cáo từ 07 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với bị cáo; Ap dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các đồ vật thu giữ tại nhà bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì cáo trạng, về tội danh, điều luật và hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; Nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và miễn giảm hình phạt bổ sung cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tiều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy, biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, bị cáo vẫn mua bán ma túy. Lượng ma tuý bị cáo tàng trữ với mục đích để bán là 9,6518 gam. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng do Công an huyện T ngày 03/6/2023. Bản kết luận giám định số 840/KL-KTHS ngày

05/06/2023 của Phòng Kng an tỉnh T; Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể: Bùi Đức Đơng tính với ma túy loại Methamphetamine (MET) ngày 03/6/2023; Lời khai của người chứng kiến là ông Bùi Hữu T1; bà Nguyễn Thị T2ác tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Bùi Đức Đạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

i) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

.........

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

[3] Bị cáo có không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy làm hủy hoại sức khỏe cho người sử dụng, làm khánh kiệt tài sản, suy thoái phẩm chất đạo đức và là nguyên nhân của nhiều tội phạm khác trong xã hội, là hành vi pháp luật cấm. Bị cáo từng nhiều lần vi phạm pháp luật và bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội vì vậy cần xử lý nghiêm. Áp dụng Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt tù giam với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo mua bán ma túy thu lợi bất chính nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo không có công việc ổn định, thường xuyên phải chấp hành án phạt tù, không có tài sản có giá trị nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Đối với các vật dụng thu giữ tại nhà bị cáo gồm cân, túi ni lông và mảnh nhựa, bị cáo khai sử dụng để bán ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo Bùi Đức Đai mua ở khu vực cầu S, thành phố Hải Phòngột người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức Đạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

  2. Hình phạt: Căn cứ điểm i, khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Đức Đ (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ – ngày 03/6/2023. Phạt bổ sung đối với bị cáo 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

    • Tịch thu tiêu hủy 9,4583 gam, loại loại Methamphetamine (còn lại sau khi lấy mẫu giám định).
    • 01 cân điện tử màu đen.
    • 01 túi nilon trong suốt có gờ cài, bên trong có 10 túi nilon trong suốt có gờ cài viền màu đỏ.
    • 01 miếng nhựa màu đen.

    (Các vật chứng, tài sản trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và và Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy).

  4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Đức Đải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Đức Đ mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo

quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình
  • - Công an huyện Thái Thụy;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - Cơ quan THAHS.
  • - Bị cáo;
  • - Sở tư pháp Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2023/HSST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 173/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Đức D phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger