Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2024/HS-PT

Ngày: 19-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
Ông Phạm Minh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 76/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Hồ Hoàng G và các đồng phạm. Do có kháng cáo của các bị cáo Hồ Hoàng G, Lê Thị L và Huỳnh Thị Kim T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 73/2023/HS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Hồ Hoàng G, sinh năm 1975; nơi sinh: Đồng Tháp; HKTT và chỗ ở hiện nay: Số B, ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Phú X (Chết) và bà Phạm Thị B (Chết); có vợ tên Phạm Ánh H, sinh năm 1977; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 20/3/2023, hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Lê Thị L, sinh năm 1978; nơi sinh: Đồng Tháp; HKTT và chỗ ở hiện nay: Số B, ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành P và bà Lê Thị Bé T1 (Chết); có chồng tên Phạm Thanh H1, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 20/3/2023, hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Huỳnh Thị Kim T, sinh năm 1989; nơi sinh: Đồng Tháp; HKTT và chỗ ở hiện nay: Số A, ấp V, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn E và con bà Nguyễn Thị T2; có chồng tên Nguyễn Phước T3, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 20/3/2023, hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Hồ Hoàng G làm nghề bán nước giải khát nhưng muốn có thu nhập cao nên đã làm thầu số đề. Từ tháng 01 năm 2022, bị cáo G nhận phơi số đề giao cho B1 T4 không rõ họ tên và địa chỉ để hưởng huê hồng. Để hoạt động thầu số đề được thuận lợi, tránh bị phát hiện, bị cáo G sử dụng phương tiện điện thoại sim số 0939.649.xxx có sử dụng ứng dụng Zalo với tên tài khoản “Hồ Giang” để nhận những trang giấy có ghi từng con số cùng số tiền của người mua con số đó và đài xổ số gọi là phơi số đề của bị cáo Lê Thị L qua điện thoại sim số 0799.502.xxx với tên tài khoản trong ứng dụng zalo là “Lê Thị L” và bị cáo Huỳnh Thị Kim T qua điện thoại sim số 0394.833.xxx với tên tài khoản trong ứng dụng zalo là “Kim Thuy”. Kết quả trúng thưởng các bên thỏa thuận như sau: Dựa theo kết quả xổ số kiến thiết của Công ty X1 kiến thiết các tỉnh trong ngày vào lúc 16 giờ 10 phút và các tỉnh miền B vào lúc 18 giờ 15 phút. Bị cáo G quy định cho những người bán số đề giao phơi gọi là tay em đối với Lô A (Hai con số của giải tám), lô B (Hai con số cuối của giải đặc biệt), lô AB (Gồm số của lô A và số của lô B): người mua 1.000 đồng thì trúng 80.000 đồng, hưởng huê hồng 15%; còn số đá (Người mua số đề mua hai cặp số bất kỳ) mua 1.000 đồng thì phải trả 2.000 đồng, bao lô hai con (Hai con số cuối của tất cả các giải), bao lô ba con (Ba con số cuối từ giải bảy đến giải đặc biệt), số ba con (Ba con số của giải bảy): người mua 1.000 đồng phải trả 15.000 đồng trúng 500.000 đồng cho mỗi con số trúng, các tay em được hưởng huê hồng 3,33% trên tổng số tiền bán số trong ngày. Sau khi có kết quả xổ số, bị cáo G thanh toán tiền thắng thua với các tay em bằng cách kiểm tra các số trúng trên từng tờ phơi số đề của tay em giao, rồi lấy tổng số tiền bán được trong ngày của các đài xổ số đối với từng tay em, trừ đi số tiền trúng (nếu có) và tiền huê hồng mà tay em được hưởng, sau đó bị cáo G nhắn tin qua Z cho các tay em số tiền lời hoặc lỗ. Nếu phơi đề của các tay em có số trúng nhiều hơn tổng số tiền bán số đề trong ngày thì ngày hôm sau các tay em đến quán C thuộc ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp gặp bị cáo G để lấy tiền về chung chi cho người mua đề, nếu số tiền bán số đề trong ngày bằng hoặc cao hơn số tiền trúng thì các tay em lấy tiền bán số đề chung chi cho người mua đề trúng.

Vào lúc 16 giờ 15 phút ngày 23/5/2022, Công an huyện L phối hợp với Công an xã V kiểm tra tại quán C thuộc ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp phát hiện bắt quả tang bị cáo Hồ Hoàng G đang thực hiện hành vi nhận phơi số đề qua tin nhắn của mạng ứng dụng Zalo, qua đó thu giữ của bị cáo G: Tiền Việt Nam 13.510.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm mười ngàn đồng) và 01 (Một) điện thoại di động hiệu S S10 Lite màu xanh có số Imel 1: 353293110443797, Imel 2: 353294110443795 đã qua sử dụng, có sim số 0939649966.

Cơ quan điều tra đã thu giữ của:

  • - Bị cáo Lê Thị L: 01 (Một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A20S màu xanh IMEI 1: 351864451676203, IMEI 2: 355795641676206; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen IMEI: 35899109961955 đã qua sử dụng; một quyển tập màu trắng nhãn hiệu Minh Gia P1, mã vạch số 8938505699882.
  • - Chị Phạm Thị Mỹ D: 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO A5 2020 màu đen IMEI 1: 860169040936413, IMEI 2: 860169040936405, có sim số 0329407718, đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra thể hiện bị cáo Hồ Hoàng G đã 02 lần thực hiện hành vi thu gom phơi số đề như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 22/5/2022, bị cáo Hồ Hoàng G nhận của bị cáo Lê Thị L tổng cộng 02 phơi số đề. Trong đó: Phơi thứ nhất gồm các đài Kiên Giang, đài T và đài Đ có cùng thời gian xổ số vào lúc 16 giờ 15 phút ngày 22/5/2022 với số tiền bán đề là 5.585.000 đồng, phơi đề này có các con số trúng gồm số 07,11,18 đài Kiên Giang và đài T, tiền mua số là 31.000 đồng, tiền trúng thưởng là 2.480.000 đồng, bị cáo G lời 3.105.000 đồng; phơi thứ hai đài miền B thời gian xổ số vào lúc 18 giờ 15 phút ngày 22/5/2022 với số tiền bán đề là 1.628.000 đồng, các số trúng gồm 15, 51, số tiền mua là 22.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 1.760.000 đồng, bị cáo G lỗ 132.000 đồng, trừ số tiền huê hồng 430.000 đồng của bị cáo L thì bị cáo G thu lợi bất chính 2.543.000 đồng. Vậy tổng số tiền bị cáo G dùng để đánh bạc là 11.453.000 đồng, bị cáo G thu lợi từ các phơi số đề của bị cáo L giao là 2.543.000 đồng.

Lần thứ hai: Ngày 23/5/2022, bị cáo Hồ Hoàng G nhận tổng cộng 04 phơi số đề của bị cáo Lê Thị L và bị cáo Huỳnh Thị Kim T. Trong đó: Bị cáo Lê Thị L nộp cho bị cáo G 01 phơi số đề với số tiền là 4.610.000 đồng và bị cáo Huỳnh Thị Kim T nộp cho bị cáo G 03 phơi số đề với tổng số tiền là 11.060.000 đồng cùng các đài Đồng Tháp, đài Cà Mau và đài thành phố Hồ Chí Minh có cùng thời gian xổ số vào lúc 16 giờ 15 phút ngày 23/5/2022. Chưa có kết quả thắng thua thì bị cáo G bị bắt quả tang nên bị cáo L và bị cáo T chưa nhận huê hồng, bị cáo G chưa hưởng lợi. Vậy tổng số tiền bị cáo G dùng để đánh bạc là 15.670.000 đồng.

Theo lời khai của chị Phạm Thị Mỹ D trình bày: Ngày 22/5/2022, chị D giao cho bị cáo G qua tin nhắn ứng dụng Zalo 01 phơi số đề với tổng số tiền là 5.430.000 đồng và ngày 23/5/2022, chị D giao cho bị cáo G 01 phơi số đề với tổng số tiền 4.486.000 đồng, nhưng khi nghe tin bị cáo G bị bắt thì chị D đã thu hồi tin nhắn và xóa ảnh các tờ phơi số đề mà chị D đã giao nộp cho bị cáo G. Bị cáo G cũng thừa nhận có nhận phơi số đề theo lời khai của chị D. Tuy nhiên, hiện không phục hồi được nội dung các tin nhắn mà chị D đã xóa và thu hồi, chỉ căn cứ vào lời khai của chị D và lời thừa nhận của bị cáo G là chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với chị D và bị cáo G về tội “Đánh bạc” theo lời khai của chị D.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 73/2023/HS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Hoàng G, Lê Thị L, Huỳnh Thị Kim T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Hoàng G 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị L 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị L số tiền 15.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Kim T 08 (T4) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung; về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Trong các ngày 03, 04 và ngày 08 tháng 01 năm 2024, các bị cáo Hồ Hoàng G và Huỳnh Thị Kim T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; bị cáo Lê Thị L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và xin giảm một phần hình phạt bổ sung.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thị L thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo, bị cáo không kháng cáo phần hình phạt bổ sung.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo Hồ Hoàng G, Huỳnh Thị Kim T và Lê Thị L bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Hồ Hoàng G, Lê Thị L và Huỳnh Thị Kim T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Bị cáo Hồ Hoàng G có cung cấp tình tiết mới là bị cáo bị bệnh vảy nến và ung thư da, đang thờ cúng liệt sĩ; bị cáo đã nộp xong số tiền phạt bổ sung và số tiền dùng để đánh bạc theo bản án sơ thẩm tuyên. Các bị cáo Huỳnh Thị Kim T và Lê Thị L cũng cung cấp thêm tình tiết mới là xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải nuôi các con còn nhỏ; các bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền dùng để đánh bạc và số tiền phạt bổ sung mà án sơ thẩm đã tuyên. Riêng gia đình bị cáo L có công với Cách mạng, ông ngoại của bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đây không phải là điều kiện để cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Hồ Hoàng G, Huỳnh Thị Kim T và Lê Thị L, giảm nhẹ cho bị cáo Hồ Hoàng G và Lê Thị L mỗi bị cáo từ 01 tháng đến 03 tháng tù; giảm nhẹ cho bị cáo Huỳnh Thị Kim T từ 01 tháng đến 02 tháng tù.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Hồ Hoàng G, Huỳnh Thị Kim T và Lê Thị L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai các bị cáo đồng phạm, người liên quan và những người làm chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào các ngày 22 và 23/5/2023 tại quán C thuộc ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp: Bị cáo Hồ Hoàng G làm thầu số đề, nhận tổng cộng 06 phơi số đề của bị cáo Lê Thị L và bị cáo Huỳnh Thị Kim T bán cho những người khác không rõ địa chỉ với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 27.123.000 đồng, bị cáo G thu lợi bất chính 2.543.000 đồng. Trong đó có 02 lần tham gia đánh bạc trên 5.000.000 đồng; Bị cáo Lê Thị L bán số đề rồi giao nộp cho bị cáo G 03 phơi số đề với tổng số tiền dùng đánh bạc là 16.060.000 đồng, hưởng lợi 430.000 đồng. Trong đó có 01 phơi số đề có số tiền dùng để đánh bạc trên 5.000.000 đồng; Bị cáo Huỳnh Thị Kim T bán số đề rồi giao nộp cho bị cáo G 01 lần chưa hưởng lợi 03 phơi số đề ngày 23/5/2022 với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 11.060.000 đồng.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Hồ Hoàng G, Huỳnh Thị Kim T và Lê Thị L tham gia đánh bạc với hình thức đánh số lô, số đề được thua bằng tiền từ 5.000.000 đồng/lần trở lên. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, khoản Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Hồ Hoàng G, Lê Thị L và Huỳnh Thị Kim T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ từ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Hồ Hoàng G, Lê Thị L và Huỳnh Thị Kim T cùng kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, có cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo Hồ Hoàng G cung cấp tình tiết bị cáo bị bệnh vảy nến và ung thư da, hiện đang thờ cúng liệt sĩ. Các bị cáo Huỳnh Thị Kim T và Lê Thị L cũng cung cấp thêm tình tiết mới là xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải nuôi các con còn nhỏ. Riêng gia đình bị cáo L có công với Cách mạng, ông ngoại của bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Cả ba bị cáo đều đã nộp lại toàn bộ số tiền dùng để đánh bạc và số tiền phạt bổ sung mà án sơ thẩm đã tuyên. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo mới cung cấp cũng không phải là điều kiện để cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Hồ Hoàng G, Lê Thị L và Huỳnh Thị Kim T.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của các bị cáo Hồ Hoàng G, Lê Thị L và Huỳnh Thị Kim T được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hồ Hoàng G, Lê Thị L và Huỳnh Thị Kim T. Sửa phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Hồ Hoàng G, Lê Thị L và Huỳnh Thị Kim T.

2. Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Hoàng G, Lê Thị L và Huỳnh Thị Kim T cùng phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Hoàng G 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Kim T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Các bị cáo Hồ Hoàng G, Lê Thị L và Huỳnh Thị Kim T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Lấp Vò (06 bản);
  • - VKSND Huyện Lấp Vò;
  • - Chi cục THADS Huyện Lấp Vò;
  • - CQCSĐT CA Huyện Lấp Vò;
  • - CQTHAHS Công an Tỉnh;
  • - CQTHAHS CA Huyện Lấp Vò;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Khắc Thịnh

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2024/HS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 173/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐÁNH BẠC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger