TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 173/2023/HSST Ngày: 16/06/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hoài.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hảo, ông Nguyễn Công Thẩm
Thư ký ghi biên bản phiên toà: ông Trần Hưng Phúc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thanh Đ - chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 103/2023/TLST- HS ngày 05 tháng 04 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2023/HSST-QĐ ngày 09 tháng 05 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2023/HSST- QĐ ngày 23/5/2023 đối với bị cáo:
1. Họ tên: Lưu Anh T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 31 tháng 3 năm 1973 tại: C, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ I, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Giám đốc - Xí nghiệp D3; Đảng phái: Đảng viên – Đ1 đã đình chỉ sinh hoạt Đảng; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lưu Khắc K (đã chết); Con bà: Đặng Thị C, sinh năm 1948; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trương Thị T1, sinh năm 1982; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (có mặt).
2. Họ tên: Nguyễn Thị Thúy H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 02 năm 1985 tại: thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Nhân viên phòng D3; Đảng phái: Đảng viên – Đ1 đã đình chỉ sinh hoạt Đảng; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Đình L, sinh năm 1959; Con bà: Đặng Thị L1, sinh năm 1960; Gia đình có 02 chị em, bị can là con thứ nhất; Chồng: Lê Đình T2, sinh năm 1981 (Đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (có mặt).
Nguyên đơn dân sự: Công ty D4
Địa chỉ: Địa chỉ: số B, VP1, Bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện ủy quyền: ông Lê D nhân viên phòng kế toán – có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Đặng Quang H1 – sinh năm 1984, địa chỉ: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Phòng 1601, chung cư T, khối F, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt.
- Anh Phan Bá T3 – sinh năm 1985, địa chỉ: Xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: số G, đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị Khánh H2 – sinh năm 1997, địa chỉ: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt.
- Chị Phan Thị Thùy D1 – sinh năm 1992, địa chỉ: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt
- Chị Phan Thị Phương T4 – sinh năm 1982, địa chỉ: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt
Chỗ ở hiện nay: P907, chung cư V 9 CTB, xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt. - Ông Lê Vũ K1 – sinh năm 1978, địa chỉ: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt.
- Ông Nguyễn Công T5 – sinh năm 1972, địa chỉ: Khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt
Chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An - Anh Nguyễn Thành V – sinh năm 1984, địa chỉ: Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt
- Anh Trần Trọng T6, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ C, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở hiện nay: Chung cư V, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh – vắng mặt
- Ông Tống Khắc D2, sinh năm 1961, địa chỉ: Xóm K, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An – vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Xí nghiệp D3 (địa chỉ: số G, đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An) được thành lập từ tháng 3/2019 và chính thức hoạt động từ tháng 4/2019, tiền thân là Phân xưởng Thí nghiệm và Phân xưởng Tư vấn thiết kế được tách ra từ Công ty Đ2, nay thuộc Công ty D4 (NPSC), Công ty D4 thuộc Tổng Công ty Đ3 (NPC), Tổng Công ty Đ3 thuộc Tập đoàn Đ4 (E). Công ty D4 (Địa chỉ: số B, VP1, Bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội) là Công ty N (không thuộc cổ phần) do Cục Thuế thành phố H quản lý.
Công ty D4 có quy định mức thanh toán chi phí đối với từng loại hình sản xuất của các Xí nghiệp Dịch vụ Điện lực trực thuộc, trong đó có chi phí làm việc với khách hàng. Trong thực tế Xí nghiệp D3 có chi phí tiếp khách và chi phí đối nội, đối ngoại nhưng phần lớn các chi phí đó không đúng quy định của Công ty D4. Nên Lưu Anh T (Giám đốc) đã chỉ đạo Nguyễn Thị Thúy H (nhân viên Phòng Tổng hợp) hàng tháng lập chứng từ thanh toán khống nội dung chi tiếp khách để quyết toán với Công ty D4 lấy tiền bù lại các chi phí không đúng quy định.
Căn cứ vào lịch công tác và khối lượng công việc của Xí nghiệp D3. Hàng tháng, Nguyễn Thị Thúy H đã lập chứng từ thanh toán khống nội dung chi tiếp khách. Các chứng từ do H lập mang tên của H và một số cán bộ, nhân viên Xí nghiệp D3 để những người có tên ký vào chứng từ hoàn thiện thủ tục thanh toán, Lưu Anh T ký duyệt chứng từ để kế toán tổng hợp chuyển ra Công ty D4 duyệt quyết toán. Sau khi được Công ty D4 duyệt quyết toán, kinh phí rút ra từ ngân hàng nhập quỹ Xí nghiệp D3 quản lý, sử dụng.
Từ tháng 5/2020 đến tháng 02/2021, Nguyễn Thị Thúy H đã soạn thảo (lập) 80 chứng từ thanh toán khống nội dung chi tiếp khách (dịch vụ ăn uống) với số tiền là 342.986.025 đồng (Ba trăm bốn mươi hai triệu, chín trăm tám mươi sáu nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng) chuyển cho ông Tống Khắc D2, ông Phan Bá T3, ông Đặng Quang H1, ông Nguyễn Công T5, ông Trần Trọng T6, ông Lê Vũ K1, ông Nguyễn Thành V, bà Nguyễn Thị Khánh H2 ký vào chứng từ hoàn thiện thủ tục thanh toán. Đến cuối tháng, Xí nghiệp D3 tập hợp chứng từ đề nghị Công ty D4 quyết toán. Trong đó, ông Tống Khắc D2 ký 06 chứng từ với số tiền 14.537.500đồng, ông Phan Bá T3 ký 16 chứng từ với số tiền 32.307.609đồng, ông Đặng Quang H1 ký 02 chứng từ với số tiền 2.646.000 đồng, ông Nguyễn Công T5 ký 22 chứng từ với số tiền 76.933.000 đồng, ông Trần Trọng T6 ký 03 chứng từ với số tiền 12.747.000 đồng, ông Lê Vũ K1 ký 13 chứng từ với số tiền 33.611.625 đồng, ông Nguyễn Thành V ký 14 chứng từ với số tiền 49.975.200 đồng, bà Nguyễn Thị Khánh H2 ký 24 chứng từ với số tiền 67.709.625 đồng. (Chưa bao gồm tiền thuế VAT).
Số tiền thanh toán khống nội dung chi tiếp khách được sử dụng để chi tiếp khách, đối nội, đối ngoại của Xí nghiệp D3 theo chỉ đạo và duyệt của Lưu Anh T. Các nội dung chi được Nguyễn Thị Thúy H theo dõi, tổng hợp.
*Ngày 10/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V có Công văn số: 674/CV-CQĐT-KT đề nghị Sở T7 kết luận các nội dung sau: 1. Công ty D4 có quy định mức cho phép thanh toán, quyết toán chi phí đối với từng loại hình sản xuất của các Xí nghiệp Dịch vụ Điện lực trực thuộc, trong đó có chi phí tiếp khách hàng. Giám đốc Xí nghiệp D3 tiếp khách hàng số tiền 312.586.500 đồng (Ba trăm mười hai triệu, năm trăm tám mươi sáu ngàn, năm trăm đồng) nhưng Xí nghiệp D3 lập chứng từ đề nghị thanh toán, quyết toán mang tên bà Nguyễn Thị Khánh H2 (kế toán Xí nghiệp D3) và ông Phan Bá T3 (nhân viên phòng Tổng hợp Xí nghiệp D3) có làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, kế toán không? Được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật nào?
2. Trường hợp Xí nghiệp D3 làm trái các quy định của Nhà nước về kế toán thì xác định: Nội dung nào làm tăng chi phí, nội dung nào làm giảm doanh thu hoặc làm giảm thu nhập khác? Từ việc làm tăng chi phí và làm giảm doanh thu, thu nhập khác thì gây thiệt hại cho đơn vị, cá nhân nào? Nếu có thì tổng thiệt hại là bao nhiêu?
3. Theo quy định bà Phan Thị Thùy D1 (kế toán Xí nghiệp D3) có trách nhiệm kiểm tra, xác minh tính hợp pháp đối với các hóa đơn, chứng từ đề nghị thanh toán, quyết toán của Xí nghiệp D3 không? Được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật nào?
Ngày 16/3/2022, Sở T7 có Văn bản số: 1217/STC-TTR trả lời như sau (Bút lục số 3504a): Nội dung 1: Theo nội dung trình bày tại câu hỏi 1, việc lập chứng từ thanh toán chi phí tiếp khách đã nêu không vi phạm quy định về việc lập chứng từ kế toán quy định tại Điều 18 Luật Kế toán năm 2015. Nội dung 2: Tại nội dung câu hỏi 1, Sở T7 không xác định việc làm trái các quy định của Nhà nước, do đó đồng thời không xác định thiệt hại tại câu hỏi 2. Nội dung 3: Theo quy định tại Điều 4 Luật Kế toán năm 2015 về nhiệm vụ kế toán, kế toán không có nhiệm vụ xác minh tính hợp pháp đối với các hóa đơn, chứng từ đề nghị thanh toán, quyết toán.
Do vậy, Xí nghiệp D3 đã tiếp khách hàng (dịch vụ ăn uống) không đúng quy định (lập khống) gồm 80 chứng từ với tổng số tiền là 655.572.525 đồng - 312.586.500 đồng = 342.986.025 đồng (Ba trăm bốn mươi hai triệu, chín trăm tám mươi sáu nghìn, không trăm hai mươi lăm đồng). Từ việc thanh toán khống, đã làm tăng chi phí, giảm thu nhập chịu thuế, gây thiệt hại về thuế thu nhập doanh nghiệp cho Nhà nước, số tiền: 93.541.643 đồng (Chín mươi ba triệu, năm trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm bốn mươi ba đồng); Gây thiệt hại cho Công ty D4 số tiền: 249.444.382 đồng (Hai trăm bốn mươi chín triệu, bốn trăm bốn mươi bốn nghìn, ba trăm tám mươi hai đồng).
Ngày 29/11/2021, biết cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V vào xác minh tại Xí nghiệp D3, Lưu Anh T đã tự nguyện nộp số tiền 595.000.000 đồng (Năm trăm chín mươi lăm triệu đồng) vào Xí nghiệp D3. Ngày 04/4/2022 Nguyễn Thị Thúy H đã nộp số tiền 60.572.525 đồng (Sáu mươi triệu, năm trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng) vào Xí nghiệp D3. Tổng số tiền khắc phục cho Xí nghiệp D3 là 655.572.525 đồng (Sáu trăm năm mươi lăm triệu, năm trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng).
Quá trình điều tra Lưu Anh T đã nộp số tiền 595.000.000 đồng (Năm trăm chín mươi lăm triệu đồng) và Nguyễn Thị Thúy H đã nộp số tiền 60.572.525 đồng (Sáu mươi triệu, năm trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng) tiền khắc phục lập chứng từ khống tiếp khách vào Xí nghiệp D3. Tổng số tiền khắc phục cho Xí nghiệp D3 là 655.572.525 đồng (Sáu trăm năm mươi lăm triệu, năm trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng). Số tiền này đã được Xí nghiệp D3 chuyển vào tài khoản 0101000167777 của Công ty D4 ngày 04/4/2022.
Cáo trạng số: 130/ CT-VKS-TPV ngày 05 tháng 04 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố vinh truy tố các bị cáo Lưu Anh Tuấn, Nguyễn Thị Thúy Hằng về tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 221 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát rút một phần quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 221, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51, điều 65 BLHS xử phạt Lưu Anh T từ 24 – 27 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 48 – 54 tháng.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 221, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điều 65 BLHS xử phạt Nguyễn Thị Thúy H từ 21 – 24 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 42 – 48 tháng. Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho Công ty D4 số tiền gây thiệt hại bao gồm: 216.321.255đồng và 81.120.469 đồng tiền thuế do Công ty đã điều chỉnh thuế nộp vào ngân sách nhà nước. Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHÂN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay sau phần xét hỏi đại diện VKSND thành phố Vinh rút 1 phần quyết định truy tố về số tiền gây thiệt hại và truy tố các bị cáo theo điểm a khoản 1 điều 221 BLHS. Xét thấy việc rút một phần nội dung bản Cáo trạng về khoản tiền gây thiệt hại và truy tố các bị cáo Lưu Anh T, Nguyễn Thị Thúy H theo điểm a khoản 1 điều 221 BLHS là có căn cứ. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn dân sự trình bày và xuất trình các tài liệu chứng minh đối với các khoản tiền bị cáo Lưu Anh T và Nguyễn Thị Thúy H đề nghị thanh toán năm 2021 chưa được chấp nhận và toàn bộ các khoản thu chi của Xí nghiệp D3 trong năm 2021 chưa được thanh quyết toán, hàng tháng Xí nghiệp D3 chỉ được tạm ứng 1 khoản tiền nhất định để phục vụ hoạt động sản xuất đến cuối năm Xí nghiệp và Công ty sẽ quyết toán và đối chiếu các khoản tạm ứng. Tuy nhiên đến tháng 11/2021 do bị phát hiện việc thanh toán các chi phí tiếp khách không đúng quy định nên các bị cáo Lưu Anh T, Nguyễn Thị Thúy H đã tự nguyện nộp số tiền đã lập chứng từ chi sai vào tài khoản Công ty để khắc phục hậu quả nên các khoản chi của Xí nghiệp D3 chưa được Công ty cổ phần D4 thanh quyết toán nên chưa gây thiệt hại. Cụ thể các chứng từ lập khống tiếp khách tháng 2/2021 gồm có 14 chứng từ (tại các bút lục số 3750, 4117, 4124, 4131, 4138, 4148, 4184, 4254,4255,4262,4269, 4283, 4356) với số tiền 45.544.300đồng. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 321 Bộ luật Tố tụng hình sự Viện kiểm sát rút một phần Quyết định truy tố là có căn cứ cần chấp nhận.
Tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện Công ty D4 trình bày tại phiên tòa, phù hợp với lời khai những người có liên quan trong vụ án, lời khai người làm chứng về thời gian địa điểm, vật chứng thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 5 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020, Lưu Anh T là Giám đốc - Xí nghiệp D3 đã chỉ đạo cho Nguyễn Thị Thúy H là Nhân viên phòng Tổng hợp soạn thảo (lập) 80 chứng từ thanh toán khống nội dung chi tiếp khách với Công ty D4, tổng số tiền là 342.986.025 đồng. Cụ thể năm 2020 lập 66 chứng từ gây thiệt hại 297.441.725 đồng, trong đó gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước 81.120.469đồng và gây thiệt hại cho Công ty D4 216.321.255đồng; Ngoài ra tháng 1 và tháng 2 lập khống 14 chứng từ với số tiền 45.544.300đồng tuy nhiên chưa được thanh quyết toán với Công ty D4 thì bị phát hiện nên chưa gây thiệt hại. Hành vi lập khống các chứng từ nêu trên mà bị cáo Lưu Anh T, Nguyễn Thị Thúy H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 221 Bộ luật hình sự. Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, quy định của Nhà nước về kế toán, gây mất trật tự tại địa phương. Do vậy, hành vi của các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án và vai trò của từng bị cáo: Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn; các bị cáo đều là cán bộ có chức vụ, quyền hạn, có sự thống nhất với nhau trong việc lập hồ sơ khống để rút tiền từ Ngân sách phục vụ cho công tác của đơn vị; mặc dù các bị cáo biết rõ việc làm đó là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Đối với bị cáo Lưu Anh T, nguyên là giám đốc xí nghiệp đã chỉ đạo cấp dưới lập khống 66 chứng từ thanh toán khống nội dung chi tiếp khách với Công ty D4, tổng số tiền gây thiệt hại là 297.441.725 đồng; mặc dù không có động cơ vụ lợi, nhưng hành vi của bị cáo đã vi phạm Luật Ngân sách nhà nước và Luật Kế toán, gây thất thoát cho tài sản của Công ty D4. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm chính và chịu mức án cao hơn bị cáo H. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thúy H nguyên là nhân viên văn phòng mặc dù biết Lưu Anh T chỉ đạo lập chứng từ khống để rút tiền từ Ngân sách là trái quy định của pháp luật, nhưng bị cáo không ngăn cản, mà còn tự soạn thảo và lập khống 66 chứng từ để đưa cho kế toán thanh toán rút tiền từ Ngân sách, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm đồng phạm với vai trò người giúp sức, thực hiện.
[4]. Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mặc dù việc rút tiền từ Ngân sách để phục vụ mục đích chung của đơn vị, không có vụ lợi cá nhân, nhưng sau khi biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền vào Ngân sách, cụ thể: Bị cáo Lưu Anh T tự nguyện nộp lại số tiền 595.000.000 đồng (Năm trăm chín mươi lăm triệu đồng) và Nguyễn Thị Thúy H đã nộp số tiền 60.572.525 đồng (Sáu mươi triệu, năm trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng) tiền khắc phục lập chứng từ khống tiếp khách vào Xí nghiệp D3 để khắc phục hậu quả; các bị cáo đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc giải quyết vụ án. Ngoài ra bị cáo Lưu Anh T có nhiều thành tích xuất sắc trong quá trình công tác, được tặng nhiều giấy khen; gia đình có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Bị cáo Nguyễn Thị Thúy H có bố là người có công với cách mạng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Về tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng. Xét thấy cả hai bị cáo trước khi phạm tội đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; hồ sơ vụ án thể hiện các bị cáo từ trước tới nay chấp hành tốt chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm. Các bị cáo có khả năng tự cải tạo; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 65 của BLHS; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, thấy chưa cần thiết áp dụng hình phạt tù mà cho các bị cáo hưởng án treo cải tạo tại địa phương cũng đảm bảo mục đích giáo dục. Việc cho các bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Điều này cũng phù hợp với chính sách hình sự của Nhà nước là trừng trị người cầm đầu, ngoan cố; khoan hồng đối với những người lầm đường, lạc lối biết ăn năn, hối cải.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo hiện nay không đảm nhiệm chức vụ gì, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 221 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
[6].Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; do bị cáo đồng phạm gây thất thoát cho Công ty D4 số tiền 297.441.725đồng. Trong đó, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước số tiền 81.120.469đồng và thiệt hại cho Công ty D4 số tiền 216.321.255đồng. Tuy nhiên, số tiền thiệt hại cho Nhà nước 81.120.469đồng Công ty D4 đã điều chỉnh nộp vào ngân sách nhà nước thuế giá trị gia tăng vào ngày 19/05/2022 và điều chỉnh, bổ sung thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 vào ngày 05/12/2022. Vì vậy, buộc các bị cáo phải hoàn trả cho Công ty cổ phần D4 số tiền thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 với số tiền 81.120.469đồng.
Khi phát hiện sai phạm bị cáo Lưu Anh T đã tự nguyện nộp số tiền 595.000.000 đồng (Năm trăm chín mươi lăm triệu đồng) và Nguyễn Thị Thúy H đã nộp số tiền 60.572.525 đồng (Sáu mươi triệu, năm trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng) tiền khắc phục lập chứng từ khống tiếp khách vào Xí nghiệp D3. Tổng số tiền các bị cáo nộp vào tài khoản Xí nghiệp D3 là 655.572.525 đồng (Sáu trăm năm mươi lăm triệu, năm trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng). Số tiền này đã được Xí nghiệp D3 chuyển vào tài khoản 0101000167777 của Công ty D4 ngày 04/4/2022. Tại phiên tòa bị cáo Lưu Anh T thỏa thuận nộp 282.413.500đồng, số tiền còn lại bị cáo Nguyễn Thị Thúy H nộp 60.572.525 đồng (Sáu mươi triệu, năm trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng). Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bị cáo về chịu khoản tiền gây thiệt hại. Như vậy, bị cáo Lưu Anh T được nhận lại 358.139.774đồng đã nộp thừa. Do đó, buộc Công ty D4 chuyển trả lại cho bị cáo Lưu Anh T số tiền 358.139.774đồng.
[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án có bà Nguyễn Thị Khánh H2 không tiếp khách hàng của Xí nghiệp D3 nhưng đã ký 43 chứng từ đề nghị thanh toán chi phí tiếp khách với số tiền 137.383.525 đồng (Chưa bao gồm tiền thuế VAT) nhưng trong đó có 19 chứng từ với số tiền 63.673.900 đồng (Sáu mươi ba triệu, sáu trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm đồng) không vi phạm quy định về việc lập chứng từ kế toán quy định tại Điều 18 Luật Kế toán năm 2015 nên không xác định thiệt hại; Bà H2 chưa bị xử lý kỷ luật, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”. Do vậy, hành vi của bà Nguyễn Thị Khánh H2 chưa đến mức xử lý bằng biện pháp hình sự, Cơ quan điều tra đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm đối với bà H2. Ông Phan Bá T3 không tiếp khách hàng của Xí nghiệp D3 nhưng đã ký 46 chứng từ đề nghị thanh toán chi phí tiếp khách với số tiền 145.407.909 đồng (Chưa bao gồm tiền thuế VAT) nhưng trong đó có 30 chứng từ với số tiền 113.100.300 đồng (Một trăm mười ba triệu, một trăm nghìn, ba trăm đồng) không vi phạm quy định về việc lập chứng từ kế toán quy định tại Điều 18 Luật Kế toán năm 2015 nên không xác định thiệt hại; Ông T3 chưa bị xử lý kỷ luật, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”. Do vậy, hành vi của ông T3 chưa đến mức xử lý bằng biện pháp hình sự, Cơ quan điều tra đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông T3. Ông Nguyễn Công T5, ông Lê Vũ K1, ông Trần Trọng T6, ông Đặng Quang H1 không tiếp khách hàng nhưng đã ký chứng từ đề nghị thanh toán chi phí tiếp khách không đúng quy định số tiền gây thiệt hại dưới 100 triệu đồng, chưa bị xử lý kỷ luật, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”. Do vậy, hành vi chưa đến mức xử lý bằng biện pháp hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông T5, ông K1, ông V, ông T6, ông D2, ông H1. Bà Phan Thị Thùy D1 là kế toán của xí nghiệp D3, hàng tháng tổng hợp, ký vào mục kế toán các chứng từ đề nghị thanh toán của Xí nghiệp D3 để đề nghị Công ty D4 quyết toán. Tuy nhiên, theo quy định Xí nghiệp D3 được chi phí tiếp khách, bà Phan Thị Thùy D1 không biết các chứng từ thanh toán do bị can Nguyễn Thị Thúy H lập khống; không có nhiệm vụ xác minh tính hợp pháp đối với các hóa đơn, chứng từ đề nghị thanh toán, quyết toán; các chứng từ đề nghị thanh toán đầy đủ về thủ tục và đúng định mức quy định, nên không đề nghị xử lý bằng biện pháp hình sự, Cơ quan điều tra đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm đối với bà D1.
Ông Đặng Quang H1 thu số tiền 148.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu đồng) của một số khách hàng ngoài ngành điện thuê Xí nghiệp D3 nhập cho thủ quỹ Xí nghiệp D3 nhưng không có hợp đồng, không xuất hóa đơn, không đưa vào hệ thống kế toán theo quy định. Tuy nhiên, ông Đặng Quang H1 chỉ có trách nhiệm thi công, không có trách nhiệm trong ký kết hợp đồng, thanh toán, xuất hóa đơn với khách hàng mà làm theo chỉ đạo của Lưu Anh T, không hưởng lợi. Quá trình điều tra chưa xác định được các cá nhân, tổ chức thuê Xí nghiệp D3 nên chưa đủ cơ sở kết luận về hành vi này. Nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục điều tra làm rõ, khi có kết quả đề nghị xử lý sau.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 221, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51, điều 65 BLHS xử phạt: bị cáo Lưu Anh T từ 21 (Hai mươi mốt) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 42 tháng về tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, theo dõi giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 221, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Thúy H từ 18(Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng về tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An quản lý, theo dõi giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Khi phát hiện sai phạm bị cáo Lưu Anh T đã tự nguyện nộp số tiền 595.000.000 đồng (Năm trăm chín mươi lăm triệu đồng) và Nguyễn Thị Thúy H đã nộp số tiền 60.572.525 đồng (Sáu mươi triệu, năm trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng) tiền khắc phục lập chứng từ khống tiếp khách vào Xí nghiệp D3. Tổng số tiền các bị cáo gây thiệt hại là 297.441.725đồng. Số tiền này đã được Xí nghiệp D3 chuyển vào tài khoản 0101000167777 của Công ty D4 ngày 04/4/2022. Tại phiên tòa bị cáo Lưu Anh T thỏa thuận nộp 282.413.500đồng, số tiền còn lại bị cáo Nguyễn Thị Thúy H nộp 60.572.525 đồng (Sáu mươi triệu, năm trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng) được khấu trừ vào số tiền các bị cáo đã nộp. Do đó, Công ty D4 phải hoàn trả lại cho bị cáo Lưu Anh T số tiền 358.139.774đồng (Ba trăm năm tám triệu, một trăm ba chín ngàn, bảy trăm bảy tư đồng).
Về án phí: căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lưu Anh T, Nguyễn Thị Thúy H mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hoài |
Bản án số 173/2023/HSST ngày 16/06/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự: vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng
- Số bản án: 173/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vi phạm quy đinh về kế toán
