Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2024/DS-PT

Ngày: 16 - 4 - 2024

“V/v tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Phương Loan;

Ông Nguyễn Thành Lập.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 tháng 02 và 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 363/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 83/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 345/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1960; nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T: Luật sư Quách Trọng P – Là Luật sư của Chi nhánh Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H.

- Bị đơn:

  1. Ông Võ Văn C (T1), sinh năm 1961;
  2. Nguyễn Thị N, sinh năm 1962.

Cùng cư trú tại: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1 (C): Luật sư Nguyễn Văn N1 – Là Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lâm Kim H, sinh năm 1968; nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  2. Huỳnh Thị Thùy D, sinh năm 1991;
  3. Ông Võ Út Đ, sinh năm 1990.

Cùng cư trú tại: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

  1. Ngân hàng N2.

Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Chức vụ: Tổng Giám Đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quốc T2 – Chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh huyện C.

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.

  1. Ủy ban nhân dân huyện C.

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Ông Võ Văn C (T) – Bị đơn.

Ông T, ông C, bà N, bà H, ông Đ, Luật sư N1 và Luật sư P có mặt tại phiên tòa, các đương sự khác vắng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/3/2019 và các lời khai tại Tòa án, ông Võ Văn T (nguyên đơn) trình bày:

Cha của nguyên và bị đơn là cụ Võ Văn P1 (Sinh năm 1917 - chết năm 1986). Cụ P1 lúc sinh thời cùng chung số với 02 người vợ là cụ Nguyễn Thị Đ1 (chết năm 2014) và vợ sau là cụ Lâm Thị P2 (sinh năm 1924 - chết năm 1989).

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cụ Lâm Thị P2, ông T đã được cụ P2 cho ông phần đất vào năm 1989, có diện tích là 10.210 m², tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau, khi cho đất không có giấy tờ gì và cũng không ai chứng kiến. Đến ngày 30/5/1999 ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là QSDĐ) với diện tích nêu trên. Do hoàn cảnh khó khăn không canh tác nên vào năm 2005 gia đình ông đã chuyển qua Sông Đ, huyện T để làm ăn, trước khi ông đi thì ông Võ Văn C (em ruột) và bà Nguyễn Thị N (vợ ông C) đã cất nhà cây lá tạm trên phần đất này. Nay ông yêu cầu ông Võ Văn T3 và bà Nguyễn Thị N phải di dời nhà và trả lại cho ông phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 14.917,8 m², đất tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản hòa giải và các lời khai tại Tòa án, bị đơn ông Võ Văn C (T) trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cụ P2 (mẹ kế của ông C), sau đó do cụ P2 bệnh nặng nên đã giao quyền lại cho cha của ông là cụ Võ Văn P1 (chồng cụ P2) đứng tên mục kê và cụ P1 đã thống nhất cho ông (khi cho đất không có giấy tờ gì và cũng không ai chứng kiến) nên ông đã đứng tên sổ mục kê nhưng chưa làm giấy chứng nhận QSDĐ, ông đã ở và canh tác phần đất này từ năm 1998 cho đến nay. Ngoài ra, cụ P2 có 13 công đất tầm lớn, tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện Đ đã chia cho ông T, ông Võ Văn K mỗi người 6.500 m², còn phần của ông là diện tích 10.210m² tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Khi ông T làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất ông đang sử dụng, ông không hay biết. Đến năm 2011, Ngân hàng N2 – Chi nhánh huyện C liên hệ đến gia đình để yêu cầu trả nợ thì ông mới biết ông T đã làm giấy chứng nhận QSDĐ với phần đất này. Sau khi đo đạc thực tế thì phần đất tranh chấp có diện tích 14.917,8 m². Trên phần đất tranh chấp có 01 căn nhà cơ bản ông xây dựng từ tháng 4/2019, có một số cây trồng lâu năm là dừa, đước, me. Ngoài ra, có 01 cái cống xổ vuông và một cây nước (giếng nước khoan). Đối với căn nhà cấp 4 bằng cây gỗ địa phương trên đất thì hiện nay đã bị sập. Đối với yêu cầu khởi kiện đòi đất của ông T thì ông không đồng ý, ông có đơn phản tố yêu cầu Tòa án xem xét buộc ông Võ Văn T và bà Lâm Kim H phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ giá trị tài sản, công trình xây dựng trên đất và toàn bộ cây trồng trên đất tranh chấp với tổng số tiền là 478.696.710 đồng (trong đó nhà chính, hàng ba, nhà phụ, tam cấp, hồ nước, nền xi măng và 01 cây nước có giá trị là 382.058.710 đồng; toàn bộ cây trồng có giá trị là 96.638.000 đồng). Đồng thời, yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ số O 519243 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/5/1999 cho ông T đứng tên với diện tích là 10.210 m², đất toạ lạc tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Ngoài ra, ngày 14/6/2023 ông T3 và bà N có đơn yêu cầu ông T bồi thường giá trị chuồng gà có diện tích 152,25 m² với số tiền là 150.000.000 đồng nhưng không yêu cầu định giá.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N2 trình bày: Việc tranh chấp giữa các bên thì Ngân hàng N2 (viết tắt là Ngân hàng N2) không có ý kiến. Ngày 14/12/2018 ông T cùng bà H có ký hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận QSDĐ có diện tích 7.590 m², trong đó đất ở 300 m², đất vườn 2.220 m² và đất lúa 5.070 m² (nằm trong tổng diện tích 10.210 m²), thửa số 608, 609, tờ bản đồ số 05, cấp ngày 30/5/1999, do ông T đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ, đất toạ lạc tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau cho Ngân hàng N2 để vay số tiền gốc là 105.000.000 đồng. Nay Ngân hàng Nông nghiệp yêu cầu ông T và bà H phải trả tổng số tiền tính đến ngày 27/7/2023 số tiền vốn và lãi là 159.500.000 đồng. Đồng thời, ông T và bà H phải chịu tiếp tiền lãi theo mức lãi suất tại hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp, ông T và bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì phát mãi tài sản đã thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 174/2023/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau quyết định (Tóm tắt).

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T.

Buộc ông Võ Văn T3 (T3) và bà Nguyễn Thị N phải di dời chuồng gà có chiều ngang 8,7 mét, chiều dài 17,6 mét, với diện tích 153,1 m² để trả lại cho ông Võ Văn T phần đất theo đo đạc thực tế có vị trí tranh chấp M1M2M3M4M5M6, với diện tích 14.917,8 m², đất tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Buộc ông Võ Văn C (C) và bà Nguyễn Thị N phải di dời toàn bộ tài sản trong nhà (không phải là tài sản đã định giá) để giao căn nhà cấp 4, công trình xây dựng trên đất, 01 cây nước (giếng nước khoan) và toàn bộ cây trồng trên đất tranh chấp để ông T và bà H quản lý, sử dụng.

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Võ Văn T3 (C) và bà Nguyễn Thị N đối với ông Võ Văn T và bà Lâm Kim H.

Buộc ông Võ Văn T và bà Lâm Kim H phải bồi thường toàn bộ giá trị tài sản, công trình xây dựng trên đất và toàn bộ cây trồng trên đất tranh chấp với tổng số tiền được định giá là 478.696.710 đồng (Trong đó, bao gồm nhà chính, hàng ba, nhà phụ, tam cấp, hồ nước, nền xi măng và 01 cây nước có giá trị là 382.058.710 đồng; toàn bộ cây trồng có giá trị là 96.638.000 đồng).

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Võ Văn T3 (C) và bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu ông Võ Văn T bồi thường giá trị chuồng gà có diện tích 152,25 m², với số tiền là 150.000.000 đồng và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 519243 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 30/5/1999 cho ông T đứng tên với diện tích là 10.210 m².

Buộc ông Võ Văn T và bà Lâm Kim H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N2 tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày 27/7/2023 là 159.500.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, xử lý tài sản thế chấp để vay Ngân hàng Nông nghiệp, chi phí tố tụng, án phí, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.

- Ngày 09/8/2023 bị đơn là ông Võ Văn C (T) kháng cáo Bản án sơ thẩm số 174/2023/DS-ST ngày 09/8/2023 của TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, yêu cầu cấp phúc thẩm chia thừa kế cho ông C theo quy định, do ông là người trực tiếp trông coi mồ mã, bồi đắp và thờ cúng hương hỏa cha mẹ.

- Ngày 30/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành Quyết định số 05/QĐ-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án số 83/2023/DS-PT ngày 31/7/2023 của TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, đề nghị TAND tỉnh Cà Mau hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho TAND huyện Cái Nước giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Võ Văn C giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Luật sư Nguyễn Văn N1 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông C.

Luật sư Quách Trọng P đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Hủy Bản án sơ thẩm số 83/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Giao hồ sơ về TAND huyện Cái Nước giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét đơn kháng cáo của bị đơn Võ Văn C nộp trong thời hạn qui định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của ông C, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp ông T và ông C đều thống nhất của cụ Lâm Thị P2. Theo sổ mục kê ruộng đất năm 1993 đứng tên cụ Võ Văn P1, phần đất có diện tích theo đo đạt thực tế là 14.917.8m² tại thửa đất số 607 608 609 tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Ông T cho rằng cụ P2 cho đất vào năm 1989 nhưng ông không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh, do đó lời trình bày của ông T về việc cụ P2 cho ông phần đất tranh chấp, là không có căn cứ.

[2.2] Theo sổ mục kê ruộng đất thể hiện cụ Võ Văn P1 đứng tên toàn bộ phần đất tranh chấp, cho thấy lời trình bày của bị đơn Võ Văn C: “Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cụ P2, sau đó do cụ P2 bệnh nặng nên đã giao quyền lại cho chồng là cụ Võ Văn P1 đứng tên mục kê”, là có căn cứ.

[2.3] Cụ phó chết không để lại di chúc, phần đất tranh chấp có liên quan đến hàng thừa kế của P1. Hồ sơ thể hiện cụ P1 sống cùng với cụ Nguyễn Thị Đ1, cụ P1 và cụ Đ1 có 6 người con: Bà Võ Kim M (sinh năm 1951, mất năm 2009), ông Võ Văn V1 (sinh năm 1952, mất năm 2017), ông Võ Văn K, ông Võ Văn C (T), ông Võ Văn H1, ông Võ Văn T nhưng cấp sơ thẩm không đưa những người này vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M và ông V1, để họ thực hiện quyền của mình là thiếu sót (bà M có 05 con, cấp sơ thẩm chỉ ghi ý kiến của 01 người; ông V1 có 03 con, cấp sơ thẩm chỉ ghi ý kiến của 01 người).

[3] Do việc đưa thiếu người tham gia tố tụng, tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, do đó cần phải hủy bản án sơ thẩm số 83/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau và chuyển hồ sơ vụ án cho TAND huyện Cái Nước giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Đề nghị của các Luật sư tại phiên toà không phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.

[5] Bản án sơ thẩm xác định bị đơn là ông Võ Văn T3 (C) là chưa đúng. Theo Căn cước công dân, bị đơn tên Võ Văn C (bút lục 351), do đó cấp phúc thẩm điều chỉnh lại tên của bị đơn cho đúng.

Khi giải quyết lại vụ án, cấp sơ thẩm cần xem xét, đánh giá về hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông T (do sau khi xử sơ thẩm, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C mới cung cấp thông tin và hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông T). Ngoài ra, ông C và bà N có yêu cầu ông T bồi thường giá trị chuồng gà có diện tích 152,25 m² với số tiền là 150.000.000 đồng, cần xác định lại các đương sự có yêu cầu định giá hay không.

[6] Do hủy án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của bị đơn.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm được giữ lại để tiếp tục giải quyết vụ án. Án phí dân sự phúc thẩm nguyên và bị đơn không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

2. Án phí:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm được giữ lại để tiếp tục giải quyết vụ án.
  • - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Văn C (T3) không phải chịu (đã được miễn dự nộp).

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Phương Loan

Nguyễn Thành Lập

Đỗ Cao Khánh

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT (TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Cao Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 173/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger