Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2024/HS-ST

Ngày 12/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thuỳ Phương; bà Nguyễn Thị Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 174/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Sỹ N, sinh năm 2000. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. HKTT: khu V, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Phạm Sỹ M, sinh năm 1936 (đã chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M1, sinh năm 1960. Gia đình có bị cáo là duy nhất. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Diệu L, sinh năm 2003 (đã ly hôn). Con: có 01 con, sinh năm 2003.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Diệu L, sinh năm 2003. Có mặt.

HKTT: thôn P, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2019, Phạm Sỹ N và chị Nguyễn Thị Diệu L có quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương. Đến khoảng tháng 06/2022, N và chị L đăng ký kết hôn và có 01 con trai chung. Trong thời gian chung sống, được sự đồng ý của chị L, N có sử dụng điện thoại của N ghi lại tổng 36 đoạn video quay lại cảnh quan hệ tình dục giữa N và chị L để làm kỉ niệm. Đến đầu năm 2024, N và chị L xảy ra nhiều mâu thuẫn, xô sát mục đích hôn nhân không đạt được nên đến tháng 05/2024 N và chị L đã ly hôn. Chị L cùng con chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn P, xã Đ, T. Sau khi ly hôn, N thường xuyên tìm gặp nói chuyện, nhắn tin đề nghị chị L quay lại với N nhưng chị L không đồng ý. Do bực tức việc chị L ly hôn với mình và muốn làm chị L xấu hổ không dám yêu ai nên N đã nhắn tin, gửi các video ghi lại cảnh quan hệ tình dục giữa N và chị L cho chị L, người thân của chị L qua mạng xã hội zalo và Facebook và đăng tải các video lên nhóm “VIET69 – Giao Lưu & Chia Sẻ” thông qua ứng dụng Telegram cụ thể như sau:

Ngày 06/6/2024, N sử dụng điện thoại Iphone 6S Plus, lắp sim số 0384.540.267, đăng nhập mạng xã hội zalo có tên “Phạm Sỹ N” nhắn tin qua tài khoản “Nguyễn Thị Diệu L” của chị L và nhắn tin vào tài khoản Z “Phạm Thị L1” của bà Phạm Thị L1, sinh năm: 1979, HKTT: thôn P, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (là mẹ đẻ của chị L) nhiều tin nhắn với nội dung chửi bới, xúc phạm chị L và gửi một số video ghi lại cảnh quan hệ tình dục giữa N và chị L cho bà L1. Đến 17 giờ 32 phút cùng ngày, N đăng nhập tài khoản trên ứng dụng mạng xã hội Telegram của N có tên “abcd efgh” đăng tải 08 (tám) video chứa nội dung ghi lại hình ảnh quan hệ tình dục giữa N và chị L và hình ảnh thông tin trang cá nhân Facebook của L cùng tin nhắn “Ai giao lưu clip k ạ . Sinh viên năm nhất ĐHCN HN 01 con ngon . Sđt giao lưu em nó: 0377056772” vào trong hội nhóm “VIET69 – Giao Lưu & Chia Sẻ” trên ứng dụng Telegram. Đến 20 giờ 53 phút ngày 06/6/2024, N đăng nhập tài khoản Facebook “Nghĩa Linh” của chị L gửi 06 (sáu) video ghi lại cảnh quan hệ tình dục giữa N và chị L cho chị Nguyễn Thị Minh N1, sinh năm: 2006, HKTT: thôn C, xã N, thị xã Q, Bắc Ninh (là bạn gái của em trai chị L). Sau khi phát hiện N đăng nhập vào tài khoản Facebook “Nghĩa L2” của mình để nhắn tin gửi video quan hệ tình dục cho người thân, chị L2 đã nhờ anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 2005 (là em ruột ở cùng địa chỉ với chị L2) vào đổi mật khẩu tài khoản trên.

Ngày 07/6/2024, N đăng nhập tài khoản Facebook tên “Phạm Sỹ N” của N nhắn tin đến tài khoản Facebook của ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1981, HKTT: thôn P, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (là bố đẻ của chị L2) và đến tài khoản Facebook “Nghĩa L2” cho chị L2 nhiều tin nhắn với nội dung chửi bới, xúc phạm gia đình chị L2 và gửi 02 video ghi lại cảnh quan hệ tình dục giữa N và chị L2.

Trong các ngày 08/6/2024 và 10/6/2024, N tiếp tục sử dụng tài khoản Facebook “Phạm Sỹ N” nhắn tin đến tài khoản Facebook “Nghĩa Linh” của chị L2 với nội dung chửi bới, xúc phạm chị L2 và gia đình. Do hoảng sợ, chị L2 và gia đình đã chặn liên lạc với N, đồng thời sau khi phát hiện một số đoạn video ghi lại cảnh quan hệ tình dục của mình được gửi đến người thân trong gia đình và bị phát tán lên nhóm “VIET69 – Giao Lưu & Chia Sẻ” của ứng dụng Telegram thì chị Linh cảm t vô cùng xấu hổ, nhục nhã với mọi người, không dám đi đâu, tự nhốt mình ở trong phòng không dám gặp ai và phải xin nghỉ việc ở công ty.

Ngày 12/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q nhận được đơn trình báo của chị Nguyễn Thị Diệu L, sinh năm 2003, HKTT: Thôn P, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh về việc: Ngày 07/6/2024 chị L phát hiện một số video ghi lại hình ảnh quan hệ tình dục của chị L với anh Phạm Sỹ N, sinh năm 2000, HKTT: khu V, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (chồng cũ của chị L) được anh N gửi cho bố, mẹ em trai chị L thông qua mạng xã hội Facebook và đăng lên nhóm “VIET69 – Giao Lưu & Chia Sẻ” thông qua ứng dụng Telegram với mục đích làm nhục chị L.

Sau khi tiếp nhận đơn trình báo của người bị hại, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q điều tra tiến hành các biện pháp nghiệp vụ triệu tập đối tượng Pham Sỹ N2 lên làm việc. Tại cơ quan điều tra N2 đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu vàng, số Imei: 358625071335121, lắp sim số 0384.540.267.

Tiến hành kiểm tra điện thoại của Phạm Sỹ N có lưu các đoạn video ghi lại hình ảnh quan hệ tình dục giữa N và Chị L và nội dung tin nhắn qua mạng xã hội Zalo, facebook N chửi bới, xúc phạm và gửi các đoạn video ghi lại cảnh quan hệ tình dục của N và chị L đến người thân trong gia đình chị L và đăng lên nhóm “VIET69 – Giao Lưu & Chia Sẻ” của ứng dụng Telegram.

Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, Phạm Sỹ N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 131/CT-VKSQV ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Phạm Sỹ N về tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm a, e Khoản 2, Điều 155 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận: Vì bực tức việc chị L ly hôn với mình và muốn làm chị L xấu hổ không dám yêu ai nên N đã nhiều lần gửi và đăng tải các đoạn video clip ghi lại hình ảnh N và chị L quan hệ tình dục với nhau cho người thân của chị L và đăng tải lên mạng xã hội Telegram. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Làm nhục người khác” là đúng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Phạm Sỹ N phạm tội “Làm nhục người khác”.

Áp dụng điểm a, e Khoản 2, Điều 155; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt Phạm Sỹ N 03 tháng 03 ngày tù đến 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo N.

Về trách nhiệm dân sự: không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu vàng, số Imei: 358625071335121 (đã qua sử dụng).

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, các bản tự khai, các biên bản ghi lời khai và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 06/6/2024 đến ngày 10/6/2024, Phạm Sỹ N sử dụng 01 điện thoại Iphone 6S Plus đã nhiều lần gửi và đăng tải các đoạn video clip ghi lại hình ảnh N và chị Nguyễn Thị Diệu L quan hệ tình dục với nhau cho người thân của chị L và đăng tải lên mạng xã hội Telegram khiến chị Linh cảm t xấu hổ, nhục nhã với mọi người, phải nghỉ việc ở công ty. Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Sỹ N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm nhục người khác”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, e Khoản 2, Điều 155 Bộ luật Hình sự. Vì vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố đối với bị cáo Nghĩa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người trưởng thành có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc dùng mạng xã hội đăng tải clip quay cảnh quan hệ tình dục giữa bị cáo và bị hại nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của bị hại là trái pháp luật và đạo đức xã hội, nhưng vì bực tức việc chị L ly hôn với mình và muốn làm chị L xấu hổ không dám yêu ai, đồng thời bị cáo coi thường danh dự, nhân phẩm của người khác nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi. Do đó cần xử bị cáo với mức án nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Phạm Sỹ M được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, điều luật còn quy định “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm”. Xét bị cáo là người lao động tự do nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, chị L không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần do hành vi của N gây ra đối với chị nên không xem xét giải quyết.

[7] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu vàng, số Imei: 358625071335121 (đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện phạm tội, bị cáo đã dùng để phát tán đoạn clip có hình ảnh quan hệ tình dục giữa bị cáo và chị L nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[8] Liên quan trong vụ án này còn có:

Đối với hành vi đăng tải 08 video ghi lại hình ảnh quan hệ tình dục của N và chị L lên nhóm VIET69 – Giao Lưu & Chia Sẻ” của mạng xã hội Telegram của N. Quá trình điều tra N khai nhận mục đích đăng lên để làm nhục chị L. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định, tại bản kết luận giám định số 01 ngày 05/7/2024 của Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh B kết luận: "Nội dung các video trên không phải văn hóa phẩm đồi trụy" nên Cơ quan điều tra không xử lý N về hành vi "Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy" là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Phạm Sỹ N phạm tội “Làm nhục người khác”.

Áp dụng điểm a, e Khoản 2, Điều 155; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 299, Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt: Phạm Sỹ N 03 (ba) tháng 03 (ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu vàng, số Imei: 358625071335121 (đã qua sử dụng).

(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 150 ngày 26/8/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKS, CA, THADS thị xã Quế Võ;
  • - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Nguyễn Thị Thu Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự (tội làm nhục người khác)

  • Số bản án: 173/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tội Làm nhục người khác)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Sỹ N phạm tội "làm nhục người khác"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger