HTÒA ÁN NH DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 173/2024/HNGĐ-ST Ngày 11 - 7 – 2024 V/v trA chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Biện Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Thanh Bự
Bà Nguyễn Kim Kết
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 270/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Bảo V, sinh năm: 1999; địa chỉ cư trú: Ấp TB, xã TH, huyện CN, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: A Nguyễn Chí A, sinh năm: 1991; địa chỉ cư trú: Ấp KC, xã QPB, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Lâm Bảo V trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Lâm Bảo V và A Nguyễn Chí A tổ chức đám cưới vào ngày 16/01/2017, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã QPB, huyện ĐD. Sau khi kết hôn A chị sống tại ấp KC, xã QPB, huyện ĐD. Quá trình chung sống đến ngày 01/5/2024 phát sinh mẫu thuẫn giữa chị V với cha chồng nên A Chí A đánh chị V bằng tay vào be sườn và mặt 4 cái, từ đó ly thân cho đến nay. Nay chị V xin ly hôn anh Chí A.
- Về con chung: Nguyễn Khả V (nữ), sinh ngày 24/6/2020 hiện tại do anh chị đang nuôi dưỡng, khi ly hôn chị V yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung tự thoả thuận, nợ người khác và người khác nợ lại: Không có.
* Bị đơn anh Nguyễn Chí A trình bày:
- Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn năm 2017, hôn nhân tự nguyện, nơi đăng ký kết hôn theo chị V trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn, trong quá trình chung sống giữa anh và chị V có xảy ra đánh nhau khoảng 7 lần, nguyên nhân do chị V cãi nhau với cha mẹ của anh, anh có khuyên nhưng chị V không nghe. Vào ngày 01/5/2024 chị V có mâu thuẫn với cha anh, anh có khuyên nhưng chị V vẫn không nghe nên anh mới đánh chị V 4 cái vào mặt và người chị V từ đó ly thân cho đến nay. Nay xét thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên A đồng ý ly hôn chị V.
- Về con chung: Hiện nay con chung đang do A chị nuôi dưỡng, khi ly hôn A Chí A yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
- Tài sản chung tự thoả thuận, nợ người khác, người khác nợ lại: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hôn nhân: Chị Lâm Bảo V và anh Nguyễn Chí A kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QPB, huyện ĐD vào ngày 12/11/2018 đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị V có yêu cầu ly hôn, anh Chí A đồng ý. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án chị V và A Chí A đều xác định thời gian chung sống giữa anh chị đã xảy ra mâu thuẫn trong gia đình anh Chí A, anh Chí A có đánh chị V từ đó anh chị ly thân. Do đó, cho thấy trong quá trình chung sống giữa anh chị đã xảy ra mâu thuẫn, quan hệ hôn nhân không còn tồn tại, nếu tiếp tục duy trì cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh chị.
[2] Về con chung: Xét thấy, hiện nay con chung đang do anh chị nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án chị V và anh Chí A đều có yêu cầu nuôi con. Xét thấy, cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Theo các tài liệu, chứng cứ do chị V và anh Chí A cung cấp thể hiện chị V và anh Chí A đều có chỗ ở ổn định, có thu nhập như nhau. Tuy nhiên, xét thấy trong thời kỳ hôn nhân thì anh Chí A đã có hành vi bạo lực gia đình đối với chị V theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Mặc dù, hành vi này không phải là nguyên nhân để hạn chế quyền nuôi con của anh Chí A nhưng phần nào cũng ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ nhỏ. Xét về điều kiện nuôi con thì hiện nay chị V có điều kiện thuận tiện hơn anh Chí A để nuôi con. Bởi lẽ, theo các tài liệu chứng cứ chị V cung cấp thể hiện, tại đơn yêu cầu về việc xin tiếp tục nuôi con ngày 02/7/2024 của chị V, theo đó nội dung đơn thể hiện chị V đang sống cùng cha mẹ, gia đình có làm nghề kinh doanh và xây dựng, nhân thân tốt, có thu nhập, nhà ở gần trường mầm non, có lộ giao thông thuận tiện đi lại để đưa đón trẻ (đơn có xác nhận của trưởng ấp TB và xã TH, huyện CN). Mặt khác, xét thấy con chung của anh chị là nữ, hiện nay chỉ mới hơn 4 tuổi nên cân có sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ nhiều hơn để đảm bảo cho sự phát triển và quyền lợi mọi mặt của trẻ nhỏ. Do đó, buộc anh Chí A phải giao cháu Khả V cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Vấn đề cấp dưỡng: Chị V không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung anh chị tự thỏa thuận, nợ người khác và người khác nợ lại không có nên không đặt ra xem xét.
[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị V phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 91, Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 53, 56, 57, 58, 81 và 82 của Luật hôn nH và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí tòa án;
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lâm Bảo V, và anh Nguyễn Chí A.
- Về nuôi con chung:
- Giao con chung Nguyễn Khả V (nữ), sinh ngày 24/6/2020 cho chị Lâm Bảo V được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Buộc anh Nguyễn Chí A phải giao lại cháu Nguyễn Khả V cho chị Lâm Bảo V nuôi dưỡng.
- A Nguyễn Chí A không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lâm Bảo V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0001345 ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị V đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Biện Thị Nhung |
Bản án số 173/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 173/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lâm Bảo V tranh chấp ly hôn anh Nguyễn Chí A
