|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R TỈNH K |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 173/2024/HS-ST
Ngày: 08 - 8 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH K
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Chí L
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị L
Bà Chung Kim S
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Ph - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 150/2024/TLST-HS ngày 11/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2024/QĐXXST-HS ngày 01/7/2024 đối với bị cáo:
Phạm Trung K, sinh ngày 13/01/1991 tại thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang; Nơi cư trú: Số 36/9B đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Trung Chánh và bà Phạm Thị Vân; có vợ Nguyễn Thị Thanh Thúy.
* Tiền sự: Không.
* Tiền án:
- + Ngày 18/5/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) tại Bản án số 104. Ngày 03/02/2018, chấp hành xong hình phạt, chưa xóa án tích.
- + Ngày 20/3/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang, xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự, tại Bản án số 39. Ngày 18/02/2020, chấp hành xong hình phạt, chưa xóa án tích.
- + Ngày 08/9/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang, xử phạt 06 tháng 03 ngày tù (bằng thời hạn tạm giam) về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, chưa xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang từ ngày 03/4/2024 đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Bị hại:
- - Ông Trịnh Thanh T, sinh năm 1967 (Có đơn xin xử vắng mặt).
- Địa chỉ: Số 146 đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang.
- - Ông Võ Minh H, sinh năm 1964 (Có đơn xin xử vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp Minh Long, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh K Giang.
- - Ông Danh Việt Vsinh năm 1987 (Có đơn xin xử vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp Minh Hưng, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh K Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Quách Tùng H, sinh năm 1990 (Có đơn xin xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 146 đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang.
Người làm chứng:
- - Ông Lê Hoàng V, sinh năm 1964 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Số 278/54 đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang.
- - Ông Thái Hoàng A, sinh năm 1966 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Số 36/7 đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Trung K là người đã có 02 tiền án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 01 tiền án về tội Cướp giật tài sản, chưa xóa án tích. Từ ngày 15/01/2024 đến ngày 20/01/2024, K đã thực hiện 03 vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Rạch Giá, cụ thể như sau:
Vụ thứ Nhất:
Vào khoảng 15 giờ, ngày 15/01/2024, Phạm Trung K bắt đầu xuất phát từ nhà vợ K tại địa chỉ số 151/8 Trần Hưng Đạo, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá đi bộ đến trước hẻm 150, đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Thanh và ngồi chờ tại đây với mục đích để tìm người chạy xe ôm. Cho đến khoảng 15 giờ 45 phút, cùng ngày thì ông Trịnh Thanh Tùng đến hỏi K có nhu cầu đi xe ôm không thì K đồng ý và kêu ông Tùng chở K xuống khu vực chợ Rạch Sỏi. Sau khi ông Tùng chở K tới đây thì K tiếp tục kêu ông Tùng chạy quay lại khu vực hẻm 36, đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá (hẻm 36). Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi ông Tùng chở K đến trước nhà số 36/5/2, đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Bảo thì K kêu ông Tùng dừng lại. Lúc này, K hỏi mượn điện thoại của ông Tùng để điện thoại cho người thân thì ông Tùng đồng ý và đưa điện thoại di động, nhãn hiệu POCO XIAOMI C40, màu đen cho Kiến mượn. Khi nhận được điện thoại di động thì K vừa giả vờ gọi điện vừa đi bộ từ từ vào trong hẻm rồi rẽ vào đường hẻm khác nhanh chóng tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại của ông Tùng thì K đem điện thoại đến tiệm điện thoại Gia Huy, tại địa chỉ 174B Lâm Quang Kỹ, phường Vĩnh Bảo bán cho ông Quách Tùng Huy với giá 900.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Điện thoại trên, sau đó ông Huy đem bán cho một người đàn ông lạ mặt được 1.200.000 đồng, Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Vụ thứ Hai:
Vào khoảng 15 giờ, ngày 19/01/2024, Phạm Trung K đi xe buýt đến cầu Gò Đất, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh K Giang và ngồi chờ tại đây với mục đích để tìm người chạy xe ôm. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, K gặp ông Danh Việt Vinh và thuê ông Vinh chở về thành phố Rạch Giá. Trên đường đi K nói với ông Vinh khi tới nơi cho K mượn điện thoại để điện cho chủ ghe thì ông Vinh đồng ý. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, ông Vinh và K đi đến trước nhà số 36/2, đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Bảo thì K yêu cầu dừng lại và hỏi mượn điện thoại thì ông Vinh đưa điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh dương cho K mượn. Khi nhận được điện thoại thì K vừa giả vờ gọi điện đồng thời vừa đi bộ từ từ vào trong hẻm đến khi khuất tầm nhìn của ông Vinh thì K rẽ vào một con hẻm rồi nhanh chóng tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại của ông Vinh, K đem điện thoại đến bán cho ông Quách Tùng Huy với số tiền 500.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền trên. Điện thoại trên, sau đó ông Huy đem bán cho một người phũ nữ lạ mặt bán vé số được 700.000 đồng, Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Vụ thứ Ba:
Vào khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 20/01/2024, Phạm Trung K đi xe buýt đến ngã ba Thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh K Giang và ngồi chờ tại đây với mục đích tìm người chạy xe ôm. Đến khoảng 13 giờ 30 phút, cùng ngày thì gặp ông Võ Minh Hây và thuê ông Hây chở về thành phố Rạch Giá. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi ông Hây chở K đi đến trước nhà số 36/2, Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Bảo thì K yêu cầu dừng lại. Lúc này K giả vờ mượn điện thoại của ông Hây để điện thoại cho người thân, tin tưởng K nói thật nên ông Hãy đồng ý đưa điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, màu đen cho K mượn. Khi nhận được điện thoại di động thì K vừa giả vờ gọi điện đồng thời vừa đi bộ từ từ vào trong hẻm đến khi khuất tầm nhìn của ông Hay thì K rẽ vào một con hẻm rồi nhanh chóng tẩu thoát. Chiếc điện thoại chiếm đoạt được, K mang đến bán cho ông Quách Tùng Huy với giá 500.000 đồng và tiêu xài hết số tiền trên. Khi biết chiếc điện thoại này là tài sản do phạm tội mà có ông Huy đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra
Ngày 19/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam đối với Phạm Trung K về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:
- - 01 (một) điên thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, dung lượng 128GB, số IMEI: 353815085048845, màu đen, bị nứt màn hình, đã qua sử dụng do ông Quách Tùng Huy giao nộp.
- - 03 đoạn dữ liệu được trích xuất từ camera an ninh tại hiện trường được lưu trữ trong 03t đĩa DVD, đã đưa vào hồ sơ vụ án.
* Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS, ngày 03/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá, kết luận:
Định giá qua hồ sơ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu XIAOMI POCO C40, màu đen, ram 4GB, bộ nhớ trong 64GB, số IMEI: 862598051907004, đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 15/01/2024 có giá trị là 933.000 đồng (chín trăm ba mươi ba nghìn đồng).
* Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐGTS, ngày 08/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá, kết luận:
- - 01 (một) điên thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, dung lượng 128GB, số IMEI: 353815085048845, màu đen, bị nứt màn hình, đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 20/01/2024 có giá trị là: 1.133.000 đồng (một triệu một trăm ba mươi ba nghìn đồng).
- - Định giá qua hồ sơ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F9, Ram 4GB, dung lượng 64GB, màu xanh dương, đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 19/01/2024 có giá trị là: 1.167.000 đồng (một triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng.
* Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Võ Minh Hây: 01 (một) điên thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, dung lượng 128GB, số IMEI: 353815085048845, màu đen, bị nứt màn hình, đã qua sử dụng, theo Quyết định xử lý vật chứng số 1521/QĐ-ĐTTH ngày 13/05/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.
Tại Bản cáo trạng số 169/CT-VKS ngày 11/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang đã truy tố bị cáo Phạm Trung K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Trung K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trung K mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về phần dân sự: Bị hại Trịnh Thanh Tùng, Võ Minh Hây, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quách Tùng Huy không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo; bị hại Danh Việt Vinh yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo thống nhất bồi thường và đã bồi thường xong nên đề nghị không xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm có cơ hội làm ăn lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Trung K khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo đúng với nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Cụ thể: Do không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Phạm Trung K nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản là điện thoại di động của những người chạy xe ôm bán lấy tiền tiêu xài. Bằng thủ đoạn, sau khi đón được xe ôm, K yêu cầu chở K về khu vực hẻm hẻm 36, đường Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá. Do K biết hẻm 36 có nhiều hẻm nhỏ thông với nhau dễ dàng tẩu thoát khi chiếm đoạt được tài sản. Khi đến nơi, K hỏi mượn điện thoại di động của bị hại để điện thoại cho người thân nhằm tạo niềm tin cho bị hại. Sau khi nhận được điện thoại, K vừa giả vờ gọi điện vừa đi bộ từ từ cho đến khi khuất tầm nhìn của bị hại thì nhanh chóng rẽ vào đường hẻm khác tẩu thoát, từ ngày 15/01/2024 đến ngày 20/01/2024, Phạm Trung K đã thực hiện 03 vụ lừa đảo chiếm đoạt của các bị hại: Trịnh Thanh Tùng 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu XIAOMI POCO C40, qua định giá có giá trị là 933.000 đồng; Danh Việt Vinh 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F9, qua định giá có giá trị là 1.167.000 đồng; Võ Minh Hây 01 (một) điên thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, qua định giá có giá trị là 1.133.000 đồng.
Xét thấy lời khai nhận của bị cáo về hành vi và các tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Phạm Trung K là người đã có 02 tiền án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 01 tiền án về tội Cướp giật tài sản, chưa xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Trung K đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; ... b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh K Giang truy tố bị cáo với tội danh và Điều luật viện dẫn nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị nghiêm trị; nhưng vì lòng tham, lười lao động chân chính, muốn có tiền nhanh chóng để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã lợi dụng lòng tin của chủ sở hữu, sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây mất an ninh xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả bị cáo đã gây ra, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo được tính phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Phạm Trung K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại nên có căn cứ cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra bị cáo K là người có nhân thân xấu, từng nhiều lần bị kết án về nhiều tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cướp giật tài sản, chưa được xóa án tích tuy nhiên bị cáo không có ý thức sửa chữa mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện tính xem thường pháp luật, đây là tình tiết cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trịnh Thanh Tùng, Võ Minh Hây, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quách Tùng Huy không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét; bị hại Danh Việt Vinh, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo thống nhất bồi thường và đã bồi thường xong theo biên lai thu tiền số 0006138 ngày 08/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá.
[6] Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Võ Minh Hây: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, dung lượng 128GB, số IMEI: 353815085048845, màu đen, bị nứt màn hình, đã qua sử dụng theo Quyết định xử lý vật chứng số 1521/QĐ-ĐTTH ngày 13/05/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.
Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, không có ai khiếu nại về việc xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Trung K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Phạm Trung K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Trung K 01 (một) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 03/4/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Danh Việt Vinh yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), bị cáo thống nhất bồi thường và đã bồi thường xong theo biên lai thu tiền số 0006138 ngày 08/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá. Bị hại Danh Việt Vinh có quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá để nhận số tiền bồi thường trên khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phạm Trung K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
4. Quyền kháng cáo:
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ BÙI CHÍ LINH |
Bản án số 173/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH K về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 173/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH K
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Trung K phạm tội lừa đảo chiến đoạt tài sản thuộc khoản 1 Điều 174
