TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 173/2023/HS-ST Ngày: 06-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoàng Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được, ông Đỗ Văn Kha.
-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 154/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài đối với các bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh năm: 1994, tại Nam Định; Nơi thường trú: Thôn G, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Khu phố E, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V – sinh năm 1959 (chết) và bà Trần Thị S1 - sinh năm 1960; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 25/4/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 theo Bản án số 13/2013/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt và án phí hình sự sơ thẩm ngày 11/3/2015.
Ngày 12/9/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS theo Bản án số 97/2019/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 26/01/2020 và đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/3/2020.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Lê Trung H, sinh năm: 1996, tại Bình Phước; Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Minh T - sinh năm 1971 và bà Phạm Thị Ngọc B - sinh năm 1979; Bị cáo có vợ là Phí Gia N, sinh năm 2000 và 01 con sinh năm 2022; Tiền án: 01 -Ngày 30/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại khoản 1 Điều 145 BLHS theo Bản án số 129/2020/HS-ST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 28/02/2023. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/6/2022. Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 02/02/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 10/2016/HSST.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Mã Thị Thùy M - Sinh năm 1999, có mặt
Địa chỉ nơi cư trú: Ấp F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
* Người làm chứng:
Nguyễn Quang T1 - Sinh năm 1953, vắng mặt
Địa chỉ nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thành phố Đ, Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân là người thường xuyên sử dụng ma túy đá nên khoảng 13 giờ ngày 20/6/2023, Nguyễn Văn S nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng. Sáng điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ-đen, biển số 93P1-142.44 từ nhà thuộc khu phố E, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đi đến khu vực ngã ba S thuộc xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước gặp một người thanh niên tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 3.000.000 đồng tiền ma túy thì T2 đồng ý. Sáng đưa cho T2 3.000.000 đồng, nhận tiền xong T2 đưa cho Sáng 01 bọc nylon miệng kéo dính, bên trong chứa ma túy đá và bỏ đi. Sáng cất giấu bọc ma túy vừa mua được vào trong túi quần đang mặc rồi điều khiển xe đi về nhà. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, S lấy bọc ma túy vừa mua được trích ra một ít để sử dụng, số ma túy còn lại trích ra một ít chia ra bỏ vào trong 03 gói nylon hàn kín mép rồi lấy mảnh giấy màu trắng gói bọc nylon chứa số ma túy còn lại cùng với 03 gói ma túy vừa chia ra cất giấu vào trong túi quần đang mặc với mục đích khi nào có nhu cầu thì lấy ra sử dụng tiếp. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Trung H đi bộ đến rủ S đi chơi thì S đồng ý và lấy mảnh giấy bên trong chứa ma túy đang cất giấu trong túi quần bỏ vào gác ba ga của xe mô tô biển số 93P1-142.44 và cho H điều khiển chở S đi chơi lòng vòng tại khu vực thành phố Đ. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi S và H đi đến đoạn đường Quốc lộ 14 thuộc khu phố C, phường T, thành phố Đ thì thấy lực lượng Công an giao thông Công an tỉnh B và Công an thành phố Đ phối hợp với Công an phường T đang lập chốt kiểm tra hành chính. Do lo sợ bị phát hiện nên S nói H lấy số ma túy để trên gác ba ga xe vứt đi giùm thì H đồng ý và điều khiển xe đi sát vào phía bên phải cạnh lề đường. Tại đây, H cầm lấy mảnh giấy bên trong có chứa ma túy đá đang để ở trên gác ba ga xe vứt toàn bộ số ma túy trên vào ngọn cây của hàng cây xanh bên lề đường thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại Bản Kết luận giám định số 692/KL-KTHS ngày 27/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 04 gói nylon được niêm phong gửi giám định là Ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng là: 7,0222 gam (Bảy phẩy không hai hai hai gam). Methamphetamine là chất ma túy thuộc danh mục IIC, STT 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ. Kèm theo kết luận giám định: Không
H1 lại đối tượng giám định: Mẫu hoàn lại được niêm phong có khối lượng là: M = 6,7101 gam.
Tại Bản cáo trạng số: 178/CT-VKS ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo Nguyễn Văn S và Lê Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự : Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự : Xử phạt bị cáo Lê Trung H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Văn S, Lê Trung H tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 178/CT-VKS ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; vật chứng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 20/6/2023, Nguyễn Văn S điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ-đen, biển số 93P1-142.44 từ nhà đến khu vực ngã ba S thuộc xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước mua của một người thanh niên tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) 3.000.000 đồng tiền ma túy đá. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, Sáng mang số ma túy cất giấu trên gác ba ga xe mô tô biển số 93P1-142.44 và giao xe mô tô cho Lê Trung H điều chở đi quanh khu vực thành phố Đ. Khi đi đến đoạn đường Q thuộc khu phố C, phường T, thành phố Đ thì bị lực lượng Công an đang lập chốt kiểm tra nên S kêu H cầm vứt số ma túy đá được cất giấu ở gác ba ga xe mô tô thì H đồng ý. Trong lúc H đang vứt ma túy lên ngọn cây bên lề đường thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ 7,0222 gam ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi của các bị cáo S, H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm, đồng phạm giản đơn; Bị cáo S là người thực hiện hành vi tích cực hơn, chủ động đi mua ma túy về chia nhỏ, cất giữ; bị cáo H biết S đang cất giữ trái phép chất ma túy nhưng để được sử dụng chung ma túy mà bị cáo cùng S giấu ma túy khi bị phát hiện. Do đó bị cáo S phải chịu hình phạt nặng hơn bị cáo H. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt xã hội, ảnh hưởng cho sức khỏe con người.
Xét về nhân thân, các bị cáo đều có nhân thân xấu, từng bị Toà án các cấp xét xử về các hành vi vi phạm pháp luật. Do đó cần xét xử các bị cáo mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà các bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo H có 01 tiền án nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với người thanh niên tên T2 là người bán ma túy cho Nguyễn Văn S. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ chưa xác định được nhân thân, lai lịch, chưa lấy được lời khai người này nên tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý.
Về xử lý vật chứng:
- 01 bì thư ký hiệu số 692 M ngày 21 tháng 6 năm 2023 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng KTHS Công an tỉnh B niêm phong, đóng dấu giáp lai; 01 mảnh giấy màu trắng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 ĐTDĐ hiệu OPPO màu bạc vỡ ốp lưng sau, đã cũ không lên nguồn; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo S không liên quan đến vụ án trả lại cho bị cáo S.
- 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu đen, đã cũ không lên nguồn; 01 ĐTDĐ hiệu Vsmart màu tím, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo H, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo H.
Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Lê Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 07 (bảy) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/6/2023.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Trung H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/6/2023.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư ký hiệu số 692 M ngày 21 tháng 6 năm 2023 đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng KTHS Công an tỉnh B niêm phong, đóng dấu giáp lai; 01 mảnh giấy màu trắng;
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S 01 ĐTDĐ hiệu OPPO màu bạc vỡ ốp lưng sau, đã cũ không lên nguồn; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone màu đen, đã qua sử dụng
- Trả lại cho bị cáo Lê Trung H 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu đen, đã cũ không lên nguồn; 01 ĐTDĐ hiệu Vsmart màu tím, đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài theo biên bản giao nhận vật chứng số 0002163 quyển số 0044 ngày 10/11/2023 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).
Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hoàng Long |
Bản án số 173/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 173/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
