|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 173/2024/HNGĐ–ST Ngày: 05 – 9 – 2024 V/v tranh chấp ly hôn và con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
– Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Cúc
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Tập
- Ông Bùi Ngọc Thảo
– Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
– Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án – Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 475/2024/TLST–HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 126/2024/QÐST–HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S – Sinh năm 1980
- Bị đơn: Ông Nguyễn Sĩ D – Sinh năm 1976
Địa chỉ: C T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: 1 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án – Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị S trình bày:
Bà và ông Nguyễn Sĩ D đã tự nguyện chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn vào ngày 03/01/2002 tại UBND phường T, thành phố B trên cơ sở tự nguyện. Sau một thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn không hợp nhau, bất đồng quan điểm. Xét thấy tình cảm không còn nên bà S đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.
– Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Sĩ D có 02 con chung là cháu Nguyễn Sĩ Nguyên S1 ngày 07/01/2007 và cháu Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 21/12/2002. Hiện cháu T đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu N, hiện đang ở với bà S1, nên bà S1 có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị S yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi cháu N 2.500.000 đồng/ tháng đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành.
– Về tài sản chung và nợ chung: Bà S và ông D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn ông Nguyễn Sĩ D: Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông D vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị S. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Sĩ D. Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 21/12/2002 đã đủ tuổi trưởng thành nên việc ở với ai là quyền của cháu. Giao cháu Nguyễn Sĩ Nguyên S1 ngày 07/01/2007 cho mẹ là bà Nguyễn Thị S chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Sĩ D được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng: Ông Nguyễn Sĩ D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N 2.500.000 đồng/tháng, kể từ tháng 9 năm 2024 cho đến khi cháu N đủ tuổi trưởng thành. Về tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S tranh chấp ly hôn và con chung với ông Nguyễn Sĩ D, địa chỉ cư trú tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn ông Nguyễn Sĩ D đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Sĩ D tự nguyện tìm hiểu, đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 003/10/2002 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Sĩ D đã chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Hiện nay bà S xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đã nộp đơn đề nghị giải quyết xin ly hôn với ông D. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông D vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thì chính quyền địa phương cho biết quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị S hay bị ông Nguyễn Sĩ D đánh đập, và ông Nguyễn Sĩ D cũng hay rượu chè, sau khi uống say hay về nhà đánh vợ, vậy nên bà S nộp đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật”.
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc ông Nguyễn Sĩ D không đến tham gia vào các buổi hòa giải và phiên xét xử của Tòa, đã thể hiện việc ông D không có ý định hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này, từ đó cho thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị S, cho bà S được ly hôn với ông Nguyễn Sĩ D.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Sĩ D có 02 con chung là cháu Nguyễn Sĩ Nguyên S1 ngày 07/01/2007 và cháu Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 21/12/2002. Hiện cháu T đã đủ tuổi trưởng thành, việc cháu ở với ai là quyền của cháu, nên HĐXX không xem xét. Đối với cháu N đang còn nhỏ sống với mẹ nên bà S1 có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành. Trong quá trình giải quyết vụ án ông D không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện về ly hôn cũng như về việc nuôi con chung. Tại bản lấy lời khai cháu N có nguyện vọng được ở với mẹ. Nên Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị S về việc được nuôi cháu là phù hợp với thực tế và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Nguyễn Sĩ Nguyên S1 ngày 07/01/2007 cho mẹ là bà Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.
[2.3] Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị S yêu cầu ông Nguyễn Sĩ D cấp dưỡng nuôi con chung là 2.500.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào quy định của pháp luật việc cấp dưỡng nuôi con là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Điều 7 Nghị quyết 01/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “... mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú ...”. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ vào nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, thì ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N là 2.500.000 đồng/ tháng, kể từ tháng 9 năm 2024 cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành là phù hợp.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Sĩ D tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, bị đơn ông Nguyễn Sĩ D phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Sĩ D.
- Về con chung:
Cháu Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 21/12/2002 đã đủ tuổi trưởng thành nên HĐXX không xem xét.
Giao cháu Nguyễn Sĩ Nguyên S1 ngày 07/01/2007 cho mẹ là bà Nguyễn Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Ông Nguyễn Sĩ D được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.
- Về cấp dưỡng: Ông Nguyễn Sĩ D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Sĩ Nguyên S1 ngày 07/01/2007, số tiền 2.500.000 đồng/tháng, kể từ tháng 9 năm 2024 cho đến khi cháu N đủ tuổi trưởng thành.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Sĩ D tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà Nguyễn Thị S đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2023/0010095 ngày 17/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
Ông Nguyễn Sĩ D phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.
Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Cúc |
Bản án số 173/2024/HNGĐ–ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK về tranh chấp ly hôn và con chung
- Số bản án: 173/2024/HNGĐ–ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị S ly hôn với nguyễn Sĩ D
