TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 173/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03/7/2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Xuân Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê
Bà Nguyễn Thị Phú
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXX-ST ngày 03/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 02/01/2000 (vắng mặt)
Nơi thường trú: xóm A, xã G, huyện T, tỉnh Nam Định.
Chị Y ủy quyền cho anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993; Địa chỉ: số A, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương giao nhận tài liệu với Tòa án. Văn bản ủy quyền ngày 25/3/2024.
- Bị đơn: Anh Lê Văn Đ, sinh ngày 20/01/1994 (vắng mặt)
Nơi thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Hiện lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Y trình bày:
Về hôn nhân: chị và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 05/01/2022 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh Đ làm dâu và chung sống hòa thuận. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận nhưng càng về sau càng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đỉnh điểm là năm 2022. Nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm sống, chi tiêu trong gia đình, nuôi dạy con. Ngày 20/4/2023 anh Đ đi lao động tại Đài Loan. Sau khi anh Đ đi lao động chị cùng con chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại xóm A, xã G, huyện T, tỉnh Nam Định. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn cùng tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng không được. Khi hai bên gia đình biết chuyện có khuyên bảo vợ chồng bỏ qua mâu thuẫn về đoàn tụ nhưng chị xác định tình cảm không còn nên không đoàn tụ được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn Đ.
Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung là Lê Yến L, sinh ngày 07/10/2019, hiện nay cháu đang sinh sống cùng chị. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao cháu L cho chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Lê Văn Đ là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại văn bản ý kiến Tòa án nhân được ngày 08/4/2024 và biên bản làm việc ngày 17/4/2024, bà Trần Thị H là mẹ anh Lê Văn Đ cho biết.
Về hôn nhân của anh Đ, chị Y bà cho biết: Anh, chị được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị Y về nhà bà làm dâu và chung sống hòa thuận. Chung sống cùng gia đình bà đến đầu năm 2023 thì chị Y cùng con chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở Nam Định sinh sống từ đó đến nay chưa quay lại sinh sống cùng gia đình bà. Tháng 4/2023 anh Đ đi lao động tại Đài Loan. Anh Đ có nói chuyện với bà là vợ chồng anh, chị mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Hai bên gia đình có khuyên bảo anh, chị bỏ qua mâu thuẫn về ở với nhau để cùng chăm sóc con nhưng không được.
Về con chung: anh Đ, chị Y có 01 con chung là cháu Lê Yến L, sinh ngày 07/10/2019, hiện nay cháu L đang sinh sống cùng chị Y.
Ngoài ra bà cho biết: Trước khi đi lao động tại Đài Loan anh Đ sinh sống cùng gia đình tại thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Đài Loan anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Bà đã thông báo cho anh Đ biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị Y và anh Đ thì được anh Đ cho biết: anh đồng ý ly hôn với chị Y và đề nghị giao cháu L cho chị Y chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, anh Đ không cung cấp địa chỉ nơi làm việc, nơi ở và ý kiến bằng văn bản cho Tòa án được. Anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Ngọc Y vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Lê Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Nguyễn Ngọc Y; Biên bản làm việc với bà Trần Thị H là mẹ của anh Lê Văn Đ và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Y; xử:
Về hôn nhân: chị Nguyễn Ngọc Y được ly hôn anh Lê Văn Đ.
Về con chung: Do anh Đ hiện đang lao động tại nước ngoài nên việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không đảm bảo nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lê Yến L cho chị Nguyễn Ngọc Y là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp: Chị Y khởi kiện xin ly hôn anh Đ và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại Công văn số 7519/QLXNC-P3 ngày 15/4/2024 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, anh Đ xuất cảnh gần nhất ngày 18/4/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, anh Đ được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, anh Đ là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt đương sự:
- Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Về sự vắng mặt của bị đơn: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và bà Trần Thị H (mẹ anh Đ) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh Đ ở Việt Nam là: thôn V, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh Đ thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho anh Đ biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị Nguyễn Ngọc Y và anh Lê Văn Đ. Gia đình anh Đ cho biết anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh Đ không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh Đ tại Đài Loan. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Y và anh Lê Văn Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 05/01/2022 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Lê Văn Đ.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Y với anh Đ, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị Y và anh Đ chung sống hòa thuận đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Đỉnh điểm là khi anh Đ đi lao động nước ngoài. Sau khi anh Đ đi lao động chị Y cùng con chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại Nam Định sinh sống. Kể từ tháng 4/2023 đến nay chị Y và anh Đ sống ly thân. Anh Đ hiện đang lao động tại nước ngoài, thông qua gia đình anh Đ cho biết anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với chị Y và đồng ý giao con cho chị Y chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định anh Đ, chị Y không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y với anh Đ là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
- Về nuôi con chung: Chị Y và anh Đ có 01 con chung là cháu Lê Yến L, sinh ngày 07/10/2019. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng chị Y. Sau khi ly hôn chị Y đề nghị giao con chung cho chị Y là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Xét yêu cầu giao con chung cho chị Y là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn, Hội đồng xét xử thấy: anh Đ đang lao động tại Đài Loan nên không đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Mặt khác, cháu L hiện đang sinh sống cùng chị Y, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, việc giao cháu L cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn sẽ đảm bảo hơn giao cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Ngoài ra, thông qua gia đình anh Đ cho biết ý kiến anh Đ đồng ý giao con chung cho chị Y chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao cháu L cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn anh Lê Văn Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Trường hợp anh Lê Văn Đ có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị Y không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản, công nợ: Do chị Y không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị Nguyễn Ngọc Y phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo:
- Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, anh Đ đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, chị Y vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Y được ly hôn anh Lê Văn Đ.
- Về con chung: Giao cháu Lê Yến L, sinh ngày 07/10/2019 cho chị Nguyễn Ngọc Y là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, anh Lê Văn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc Y phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001135 ngày 03/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Ngọc Y đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Anh Lê Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Ngọc Y có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Xuân Lộc |
Bản án số 173/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 173/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban an HNGD giua chi Nguyen Ngoc Y va anh Le Van Đ
