Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2025/HS-PT

Ngày:13/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khánh;
Các Thẩm phán: Ông Thái Duy Nhiệm;
Bà Vũ Thị Thu Hà.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1078/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo Lê Văn N bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Văn N; sinh năm 1977; nơi thường trú: Số nhà A Điện Biên, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V và bà Ngô Thị L (đã chết); có vợ là Trần Thị Hoa T, sinh năm 1980; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 30/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hoàng Văn L1 – Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.

Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Mai H, sinh năm 1960; trú tại: Tổ C, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Đỗ Mạnh L2 không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn N làm nghề kinh doanh bán trà sữa, đồ ăn nhanh tại khu vực đường N, thành phố P, tỉnh Hà Nam. N thường đi chùa K ở huyện L, tỉnh Hà Nam nên có quen biết bà Lại Kim H1 (sinh năm 1960, trú tại: 5 L, thành phố P, tỉnh Hà Nam). Qua bà H1, N có quen biết bà Nguyễn Thị Mai H.

Khoảng tháng 11/2021, bà H1 nói chuyện với N về việc con trai bà H tên là Nguyễn Ngọc T1 cùng nhóm bạn bị bắt về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bà H1 hỏi N xem có mối quan hệ có thể giúp xin cho T1 và 14 người bị bắt cùng T1 được tại ngoại không? Bản thân N không có khả năng, không có mối quan hệ để xin tại ngoại cho T1 và đồng bọn nhưng N nói với bà H1 để N liên hệ và hỏi người quen xem có ai giúp được không. Sau đó, N về hỏi Đỗ Mạnh L2 (là bạn trước đây làm cùng công ty M ở M, tỉnh Nam Định), N nói với L2 có đứa cháu đi “bay lắc” tại thành phố P, tỉnh Hà Nam và bị Công an thành phố P bắt giữ. Đỗ Mạnh L2 đã nói với Lê Văn N: “Bay lắc như vậy bây giờ xã hội đầy ấy mà, nhưng xã hội đơn giản, bắt vào rồi lại thả ra ấy mà”. Sau khi nghe Đỗ Mạnh L2 nói vậy thì Lê Văn N đã nói với Đỗ Mạnh L2: “Vậy anh giúp em nhé”. Đỗ Mạnh L2 hiểu ý Lê Văn N muốn nhờ L2 để lo “chạy án” cho T1 nên đã đồng ý và nói với Lê Văn N: “Ừ, chuyện này đơn giản ấy mà”. L2 yêu cầu phải đưa trước cho L2 số tiền là 1,1 tỷ đồng để lo việc và L2 đã hỏi N thông tin lai lịch của Nguyễn Ngọc T1. Sau khi L2 nhận lời thì N đã liên lạc với bà H để hỏi thông tin về Nguyễn Ngọc T1 để N cung cấp cho L2. Đồng thời, N thông báo cho bà H1 hẹn gặp bà H nói chuyện. Trong cuộc nói chuyện thì bà H bảo N muốn xin cho T1 và 14 người khác bị bắt cùng được tại ngoại. N nói với bà H, N có quen người bạn có thể làm được việc trên nhưng phải chi phí với số tiền là 1,1 tỷ đồng, bà H đã đồng ý. Khoảng 02 ngày sau, bà H đi xe ô tô mang theo số tiền 1,1 tỷ đồng để trong túi bóng đến khu vực siêu thị G - Nam Định đưa cho N. Sau khi nhận tiền của bà H, N điều khiển xe máy nhãn hiệu AirBlade, BKS 18H2-1825 đến đưa cho L2 tại số nhà H T, phường T, thành phố N. Tại phòng khách nhà L2, N đã đưa cho L2 số tiền 1,1 tỷ đồng và nói đây là tiền của bà H đưa cho để lo việc cho T1 và 14 người khác bị bắt cùng T1 được tại ngoại. Khoảng 02 ngày sau, L2 gọi điện thoại thông báo cho Nghĩa là không lo cho T1 được tại ngoại. N thông báo lại cho bà H là việc xin tại ngoại gặp sự cố, N nói với bà H số tiền 1,1 tỷ đồng mà bà H đã giao cho N tiếp tục được sử dụng để xin giảm án cho T1, bà H đồng ý. Vì vậy số tiền 1,1 tỷ đồng Lê Văn N tiếp tục giao cho L2 để xin giảm án cho T1 và đồng bọn của T1.

Khoảng thời gian 15 đến 20 ngày trước Tết Nguyên đán năm 2022, L2 và N gặp nhau, L2 yêu cầu N chuyển thêm số tiền 300 triệu đồng để mua quà tết biếu cho Lãnh đạo Công an ở tỉnh Hà Nam để xin giảm án cho T1 và đồng bọn. N đã thông báo cho bà H, bà H đồng ý, tại khu vực siêu thị G - Nam Định bà H đã giao cho Lê Văn N túi bóng đựng số tiền 300 triệu đồng. Ngay sau khi nhận tiền của bà H thì Lê Văn N đã điều khiển xe máy mang đến nhà để giao cho L2.

Khoảng đầu tháng 4/2022, bà H có gửi cho N qua tin nhắn Zalo 01 file pdf là bản Cáo trạng số 57 ngày 31/03/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố Tú và đồng bọn về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và bảo N gửi cho L2 để L2 biết nội dung để xin giảm án. Sau đó N đã dùng điện thoại di động gửi file cáo trạng nêu trên qua Zalo cho Đỗ Mạnh L2.

Đến khoảng tháng 6/2022, L2 nói với N yêu cầu gia đình bà H đưa tiếp số tiền là 400 triệu đồng để xin giảm án cho T1 và đồng bọn. N đã thông báo lại cho bà H biết. Ngày 27/6/2022, bà H đã chuyển vào số tài khoản 106.004.157.863 tại ngân hàng V1 của N số tiền 400 triệu đồng. Sau khi nhận được số tiền trên, N sử dụng số tiền 70 triệu đồng để tiêu sài cá nhân. Ngày 28/6/2022, N đã đi rút 330 triệu đồng, đồng thời lấy tiền của mình bù vào số tiền 70 triệu mà N đã sử dụng trước đó, rồi mang 400 triệu đồng đến nhà giao cho L2.

Ngày 05/8/2022, L2 nói với N đưa tiếp số tiền 400 triệu đồng để lo cả xét xử phúc thẩm. N cũng thông báo việc này cho bà H biết và bà H đã đồng ý, bà H đã chuyển vào số tài khoản nêu trên của N số tiền là 400 triệu đồng. Sau khi nhận được tiền, N đã đi rút tiền và mang đến nhà giao cho L2.

Đến khoảng tháng 9/2022, trước khi xét xử sơ thẩm vụ án “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với Nguyễn Ngọc T1 và đồng bọn thì L2 thông báo cho N để N thông báo cho gia đình bà H đưa tiếp cho L2 số tiền 150 triệu đồng để L2 lo cho T1 được làm lái xe, sử dụng điện thoại ở trại giam. N đã liên lạc với bà H và bà H đồng ý đã giao cho N số tiền 150 triệu đồng được đựng trong túi bóng tại khu vực siêu thị G. Sau khi nhận tiền của bà H thì N lại điều khiển xe máy mang xuống nhà giao cho L2.

Ngày 08/9/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm vụ án “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Ngọc T1 bị tuyên phạt 12 năm tù. Ngày 12/9/2022, L2 gửi dự thảo đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt qua Zalo cho Lê Văn N.

Nhận thấy hình phạt là cao, Nguyễn Ngọc T1 đã làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bà Nguyễn Thị Mai H đã nộp đến Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam các tài liệu liên quan để được hưởng các tình tiết giảm nhẹ cho Nguyễn Ngọc T1. Ngày 15/12/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và tuyên phạt Nguyễn Ngọc T1 07 năm 10 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Thời gian gần tết năm 2023, bà H nhận thấy việc Nguyễn Ngọc T1 được giảm án khi xét xử phúc thẩm là do Nguyễn Ngọc T1 kháng cáo và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là do quy định của pháp luật, không có việc Lê Văn N “chạy án” cho Nguyễn Ngọc T1. Bà Nguyễn Thị Mai H đã gửi đơn tố giác về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Lê Văn N gửi đến quan CSĐT Công an thành phố N. Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã thu thập tài liệu chứng cứ chuyển vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Tại cơ quan điều tra, Lê Văn N đã khai nhận toàn bộ nội dung như đã nêu trên. N khai lần đầu tiên chỉ nhận từ bà H số tiền 1,1 tỷ đồng, còn các lần đưa tiền sau này, phù hợp với lời khai bà H và phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Tổng số tiền bà Nguyễn Thị Mai H đã đưa cho Lê Văn Nghĩa L3 2.350.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 15/8/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Văn N 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Đỗ Mạnh L2, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/8/2024 bị cáo Lê Văn N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là quá nặng.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lê Văn N giữ nguyên nội dung kháng cáo, thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm quy kết; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội xác định Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Lê Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại là bà Nguyễn Thị Mai H không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường số tiền còn lại là 450.000.000 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo và Luật sư cung cấp tài liệu thể hiện gia đình bị cáo đã nộp thay cho bị cáo 22.200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; Giấy khen của Trường T3 Bộ Công nghiệp đối với Lê Văn N trong quá trình học tập và các đợt thi đua của nhà trường. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo; vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn N có quan điểm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc; vị Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã thành khẩn khai báo, bồi thường một phần tiền cho bị hại, gia đình có công với cách mạng. Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo đã nộp thay cho bị cáo toàn bộ số tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; được bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại mà Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại và tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhiều Giấy khen của T2 nơi bị cáo học tập; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Văn N có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Văn N khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Lê Văn N làm nghề kinh doanh tự do, không có chức năng nhiệm vụ quyền hạn trong các cơ quan Nhà nước, nhưng đã nhận tiền của bà Nguyễn Thị Mai H hứa hẹn thông qua mối quan hệ xã hội quen biết để lo “chạy án” giảm nhẹ hình phạt cho con trai bà H đang bị các cơ quan tố tụng thành phố P tạm giam về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Từ cuối năm 2021 đến khoảng tháng 9 năm 2022, Lê Văn N đã trực tiếp 05 lần nhận tiền của bà H với tổng số tiền là 2.350.000.000 đồng. Sau khi con trai bà H đã bị các cơ quan tố tụng tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm, phúc thẩm về hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, bà H nghi ngờ hành vi và việc làm của N gian dối không đúng với lời hứa hẹn, bà H đã đòi lại tiền mà N đã chiếm đoạt, do N đã sử dụng toàn bộ số tiền nhận từ bà H và không còn để trả lại cho bà H. Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Lê Văn N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo Lê Văn N thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là chính xác.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Văn N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 900.000.000 đồng; bố đẻ bị cáo N tham gia kháng chiến chống Mỹ và được tặng thưởng H2 huy chương kháng chiến. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này, bị cáo Lê Văn Nghĩa L3 người trực tiếp giao dịch nhận tiền, hứa hẹn việc chạy án và giảm nhẹ hình phạt cho con trai bà H nên giữ vai trò chính. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện các tình tiết của vụ án, nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo 13 năm 06 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, mặc dù gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng bị cáo đã tác động gia đình nộp thay cho bị cáo số tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm là 22.200.000 đồng; tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 450.000.000 đồng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; đồng thời gia đình bị cáo và Luật sư cung cấp tài liệu thể hiện trong quá trình học tập bị cáo được Trường T3 Bộ Công nghiệp tặng nhiều giấy khen; tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét đánh giá thêm khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo. Bởi vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về án phí, do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Lê Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn N; sửa quyết định về phần hình phạt đối với bị cáo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn N 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2023.

Ghi nhận sự tự nguyện của người bị hại là bà Nguyễn Thị Mai H không yêu cầu bị cáo Lê Văn N phải bồi thường số tiền còn lại 450.000.000 đồng cho bị hại theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, bị cáo Lê Văn N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Xác nhận bị cáo Lê Văn N đã nộp 22.200.000 đồng (do chị Trần Thị Hoa T nộp thay) án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0002571 ngày 12/3/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSNDCC tại Hà Nội;

- TAND tỉnh Nam Định;

- VKSND tỉnh Nam Định;

- Cục THADS tỉnh Nam Định;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định;

- Bị cáo (qua TTG);

- Bị hại (qua địa chỉ);

- Lưu HS; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Đình Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2025/HS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

  • Số bản án: 173/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn N tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger