|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 173/2025/DS-PT
Ngày: 27-02-2025
V/v: “Tranh chấp đòi đất bị lấn chiếm”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Uông Văn Tuấn
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Kim Thương
Bà Nguyễn Thị Lan Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1117/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi đất bị lấn chiếm”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 444/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10 bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6843/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 2025/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1969;
Địa chỉ: G Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Số A đường Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1960;
Địa chỉ: I khu A Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Thi Ngọc L (có mặt);
Địa chỉ: I khu A Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy quyền ngày 26/12/2022).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thành D – Công ty L2 - Đoàn Luật sư Thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Thi Chí T1, sinh năm 1958.
Địa chỉ: số I khu A Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Thi Ngọc L (có mặt);
Địa chỉ: số I khu A Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy quyền ngày 26/12/2022).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 9 năm 2022 và các bản tự khai, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Trần Thị M là chủ sở hữu hợp pháp nhà, đất tại số G Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 00088 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 16/7/2010 cho bà Trần Thị H1, được cập nhật biến động qua tên bà M ngày 31/7/2015, theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 13294 lập tại Văn phòng C ngày 22/7/20215, trước bạ ngày 31/7/2015 theo hồ sơ số 001056TC.001 đã đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng C. Căn nhà của bà thuộc thửa đất 88, tờ bản đồ số 7, diện tích 25,1m² có 02 tầng, tường gạch, cột gạch, sàn gỗ, mái tôn.
Nhà bà Trần Thị H (chị ruột của bà M) giáp bên cạnh nhà bà của M, đã có hành vi xây dựng lấn chiếm nhà bà, cụ thể:
- Bà H đã xây dựng lấn chiếm 1m sang phần diện tích nhà thuộc chủ quyền của bà M được công nhận. Việc xây dựng lấn chiếm đã làm bít lối đi ra mặt tiền đường H của nhà bà M.
- Phần sàn không gian lầu 2 của nhà bà H xây lấn qua lầu 1 của nhà bà M 1m, hình thức lót ván sàn đâm qua lầu 1 nhà bà M. Việc lấn chiếm này gây trở ngại cho gia đình bà M không xây dựng được nhà vệ sinh ở lầu 1 để sử dụng.
- Phần đất bên hông cạnh nhà G Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (phía trước cửa chính nhìn vào bên phải) bà H xây tường, lót gạch lấn chiếm diện tích dài 2,5m, ngang 1,2m (hiện bà H sử dụng làm nhà bếp). Mới đây bà H còn lấn chiếm thêm 2m chiều dài (bên hông nhà phía trước ra đường H) làm đà sắt, lợp tôn để dử dụng mua bán, sự việc này làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của gia đình bà M. Do diện tích nhỏ nên hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Phần diện tích này trước đây bà Trần Thị H1 đã sử dụng từ năm 1961, bà M ở chung với mẹ từ nhỏ, cùng với mẹ sử dụng nhà để kinh doanh.
Ngày 16/4/2024, bà M có đơn khởi kiện bổ sung nộp Tòa án. Theo đó, bà M xác định yêu cầu khởi kiện như sau:
- Buộc bà Trần Thị H phải trả lại 1m đất lấn chiếm và lối đi ra vào đường H ở tầng 1 của nhà bà M để gia đình bà có đường đi thoát hiểm khi có sự cố xảy ra có diện tích 1,35 m² (1m x 1,38m x 1,3m x 1,01m) (số A) và tại tầng 1 diện tích 2,07 m² (1m x 2,29m x 2,2m x 0,85m) (số B).
- Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 2 có diện tích 1,39 m² (1,06m x 1,38m x 1,3m 1,01m) (số D).
- Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 có diện tích 1,38 m² (1,1m x 1,3m x 1,26m 1,06m) (số E) và diện tích 1,39 m² (1,06m x 1,38m x 1,3m 1,01m) (số F).
Những mục đánh số 1, 2, 3, 4, 5, 6 được thể hiện theo số trong bản đồ hiện trạng ngày 11/9/2023.
Đại diện ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Thi Ngọc L trình bày:
Nguồn gốc nhà đất tại địa chỉ I khu A Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là do ông Thi Chí T1 mua bằng giấy tay của bà Phạm Thị L1 vào ngày 20/3/1978, diện tích 6,2m x 2,5m. Nhà đất này được bà Trần Thị H đăng ký kê khai nhà đất năm 1999, thuộc thửa đất 693, tờ bản đồ số 2, nay thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 7, nhà đất này có kê khai đóng thuế hàng năm cho nhà nước, có biên lai thu tiền điện, nước riêng. Tại Công văn số 411/UBND ngày 24/5/2021 của Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A xác định, nhà đất tai số I khu A Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ: 99A khu A, Phường A, Quận A) do bà Trần Thị H đứng tên làm chủ hộ khẩu thường trú từ năm 1993 đến nay; diện tích sử dụng là 31m², hiện trạng 02 tầng, tường gạch, sàn gỗ, mái tôn. Nhà và đất tại địa chỉ G Hồ T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh của bà M có diện tích đất là 25,1m², diện tích sử dụng 40,4m², thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 7. Như vậy, nhà đất của nguyên đơn sở hữu và nhà đất của bị đơn quản lý sử dụng là hai nhà hoàn toàn riêng biệt. Nguyên đơn bà Trần Thị M đã lấn chiếm một phần đất của căn nhà 99A Hồ Thị K do bị đơn quản lý, sử dụng (phần đất lấn chiếm nằm ở phía bên trái nhìn từ mặt tiền đường H nhìn vào). Vì vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, bị đơn bà Trần Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thi Chí T1 có đơn phản tố buộc nguyên đơn bà Trần Thị M tháo dỡ phần nhà lấn chiếm trên không gian của nhà bếp của nhà I Hồ T, Phường A, Quận A do bị đơn quản lý, sử dụng, phần nhà lấn chiếm không gian có diện tích 1,09m x 2,25m.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 444/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Buộc bị đơn bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 (1,10 x 1,30m x 1,26m x 1,06m) diện tích 1,38m².
- - Ghi nhận sự tự nguyện tháo dỡ của bị đơn đối với phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 2 (1,10 x 1,30m x 1,26m x 1,06m) diện tích 1,38m² của nhà nguyên đơn;
Buộc tháo dỡ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Không chấp nhận các yêu cầu sau của nguyên đơn:
Buộc bà Trần Thị H phải trả lại 1m đất lấn chiếm và lối đi ra vào đường H ở tầng 1 của nhà bà M để gia đình bà có đường đi thoát hiểm khi có sự cố xảy ra có diện tích 1,35 m² (1m x 1,38m x 1,3m x 1,01m) (số A) và tại tầng 1 diện tích 2,07 m² (1m x 2,29m x 2,2m x 0,85m) (số B).
Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 2 có diện tích 1,39 m² (1,06m x 1,38m x 1,3m x 1,01m) (số D).
Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 có diện tích 1,39 m² (1,06m x 1,38m x 1,3m x 1,01m) (số F).
Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Buộc bà Trần Thị H và ông Thi Chí T1 phải trả cho nguyên đơn bà Trần Thị M chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.500.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/10/2024, bà Trần Thị M kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Buộc bà Trần Thị H phải trả lại 1m đất lấn chiếm và lối đi ra vào đường H ở tầng 1 của nhà bà M để gia đình bà có đường đi thoát hiểm khi có sự cố xảy ra có diện tích 1,35 m² (1m x 1,38m x 1,3m x 1,01m) (số A) và tại tầng 1 diện tích 2,07 m² (1m x 2,29m x 2,2m x 0,85m) (số B).
Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 2 có diện tích 1,39 m² (1,06m x 1,38m x 1,3m x 1,01m) (số D).
Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 có diện tích 1,39 m² (1,06m x 1,38m x 1,3m x 1,01m) (số F).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà T đại diện cho bà M đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M:
Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 (1,10 x 1,30m x 1,26m x 1,06m) diện tích 1,38m².
Buộc bà Trần Thị H phải trả lại 1m đất lấn chiếm, lối đi ra vào đường H ở tầng 1, để gia đình bà M có đường đi thoát hiểm khi có sự cố xảy ra; (1,00m x 1,38m x 1,30m x 1,01m) diện tích 1,35m² (số A) và tại tầng 1 (1,00m x 2,29m x 2,20m x 0,85) diện tích 2,07m² (số B).
Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 2 (1,06 x 1,38m x 1,30m x 1,01m) diện tích 1,39m² (số D).
Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 (1,06 x 1,38m x 1,30m x 1,01m) diện tích 1,39m² (số F).
Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bà H hoàn trả cho bà M 50% chi phí thẩm định giá là 15.000.000 đồng : 2 = 7.500.000 đồng.
- Luật sư D bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bà H và bà L đại diện cho bà H trình bày: Phần đất thuộc các vị trí 1, 4, 6 và 2 không thuộc quyền sử dụng đất của bà M. Đối với công trình xây dựng tại các vị trí 1, 4, 6 và 2 cho đến nay chưa có cơ quan có thẩm quyền buộc tháo dỡ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà M về việc:
Buộc bà Trần Thị H phải trả lại 1m đất lấn chiếm, lối đi ra vào đường H ở tầng 1, để gia đình bà M có đường đi thoát hiểm khi có sự cố xảy ra; (1,00m x 1,38m x 1,30m x 1,01m) diện tích 1,35m² (số A) và tại tầng 1 (1,00m x 2,29m x 2,20m x 0,85) diện tích 2,07m² (số B).
Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 2 (1,06 x 1,38m x 1,30m x 1,01m) diện tích 1,39m² (số D).
Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 (1,06 x 1,38m x 1,30m x 1,01m) diện tích 1,39m² (số F).
Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn về việc tự nguyện tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 (1,10 x 1,30m x 1,26m x 1,06m) diện tích 1,38m².
Tại phiên tòa phúc thẩm bà H có đơn xin miễn án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm miễn án phí cho bà H và ông T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về yêu cầu buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 có diện tích 1,38 m² (1,1m x 1,3m x 1,26m x 1,06m) (số E).
Căn cứ giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH00088 (thuộc thửa số 88, tờ bản đồ số 7) của Ủy ban nhân dân Quận A cấp cho bà Trần Thị H1 ngày 16/7/2010, với hiện trạng: đất ở: 25,1 m², nhà ở 40,40 m². Năm 2015 bà Trần Thị Hồng T2 cho toàn bộ nhà đất này cho bà Trần Thị M (cập nhật ngày 31/7/2015), với hiện trạng nhà đất không thay đổi.
Căn cứ bản đồ hiện trạng ngày 11/9/2023 được các bên đương sự xác nhận phần đất bị lấn chiếm qua tầng 3 có diện tích 1,38 m² (1,1m x 1,3m x 1,26m x 1,06m) (số E) là phần không gian đối chiếu theo chiều thẳng đứng thuộc diện tích đất được cơ quan thẩm quyền cấp cho bà Trần Thị M.
Đồng thời, bị đơn cũng đồng ý đây là phần diện tích nhà bà M và tự nguyện tháo dỡ diện tích lấn chiếm 1,38 m² nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Căn cứ đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và phần trình bày yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của bà M không yêu cầu bị đơn tháo dỡ phần đất bị lấn chiếm qua tầng 2 có diện tích 1,38 m² (1,1m x 1,3m x 1,26m x 1,06m) (số C). Tuy nhiên trong quá trình xét hỏi, nguyên đơn lại yêu cầu bị đơn phải tháo dỡ phần diện tích bị lấn chiếm này. Đây là nội dung chưa được bổ sung trước khi vụ án được đưa ra xét xử. Tuy nhiên, bị đơn cũng đồng ý tháo dỡ phần diện tích lấn chiếm qua tầng 2 này. Vì vây, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện tháo dỡ của bị đơn đối với phần diện tích 1,38 m² (1,1m x 1,3m x 1,26m x 1,06m) ở tầng 2 này.
[2] Về yêu cầu buộc bà Trần Thị H phải trả lại 1m đất lấn chiếm, lối đi ra vào đường H ở tầng 1, để gia đình bà M có lối đi thoát hiểm khi có sự cố xảy ra (1,00m x 1,38m x 1,30m x 1,01m) diện tích 1,35m² (số A); tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 2 có diện tích 1,39 m² (1,06m x 1,38m x 1,3m 1,01m) (số D); tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 có diện tích 1,39 m² (1,06m x 1,38m x 1,3m 1,01m) (số F).
Đối với phần đất (1,00m x 1,38m x 1,30m x 1,01m) diện tích 1,35m² (số A), tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/6/2024 ghi nhận hiện trạng như sau: Đây là phần diện tích tầng 1 (trệt), tầng 2 nhà 99A Hồ Thị K đang sử dụng làm nhà vệ sinh, giáp mặt tiền đường H.
Theo công văn số 1202/TNMT-TN ngày 24/8/2023 của Phòng T3 cho thấy, với nội dung ghi trong Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/6/2024, Phòng T3 xét thấy “hiện trạng sử dụng đất thực tế của nhà số G không phù hợp với Giấy chứng nhận đã cấp ngày 16/7/2010 và Bản vẽ hiện trạng sử dụng nhà lập ngày 28/11/2007. Theo đó, diện tích ghi nhận tại Bản đồ hiện trạng vị trí – Áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T4 lập ngày 23/12/2021 là 28,9m² lớn hơn so với diện tích được công nhận tại Giấy chứng nhận ngày 16/7/2010 là 25,1m²”.
Xét Bản vẽ hiện trạng sử dụng nhà do Công ty D1 lập ngày 28/11/2007, Bản đồ hiện trạng vị trí – Áp ranh ngày 23/12/2021, Bản đồ hiện trạng do Công ty Cổ phần Đ lập ngày 11/9/2023 đều thể hiện nội dung: phần diện tích nhà của bà M số 79 Hồ Thị K thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 7. Phía lối đi ra đường Hồ Thị Kỷ phần đất bà M được công nhận được giới hạn đến kích thước: cạnh ngoài 1,00m; cạnh bên trong bên trái 4,73m; cạnh bên trong bên phải 1,27m.
Như vậy, phần đất (1,00m x 1,38m x 1,30m x 1,01m) diện tích 1,35m² (số A) không nằm trong phần diện tích khuôn viên nhà của bà M. Trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BB 968396 do A cấp ngày 16/7/2010 cũng không ghi nhận phần diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của bà M.
Căn cứ khoản 2 Điều 175 Bộ luật Dân sự quy định: “Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác”.
Phần diện tích tại vị trí số 4 và 6 là chiều không gian thẳng đứng của phần đất (1,00m x 1,38m x 1,30m x 1,01m) diện tích 1,35m² (số A) tại các tầng 2 và tầng 3 cũng không thuộc quyền sử dụng của bà M.
Tại phiên tòa cũng xác định phần diện tích tại vị trí số 4 và 6 không thuộc phần đất sở hữu của bà M nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến việc sinh hoạt chung của nhà bà M, là mặt tiền căn nhà hướng ra đường H và là lối đi thoát hiểm khi có sự cố xảy ra nên yêu cầu nhà bà H tháo dỡ. Tuy nhiên, theo hiện trạng bản vẽ do Công ty cổ phần Đ lập ngày 11/9/2023 thì nhà bà M có lối đi hướng ra thẳng hẻm G Hồ T. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với các yêu cầu này.
[3] Về yêu cầu bị đơn tháo dỡ phần diện tích tại tầng 1 diện tích 2,07 m² (1m x 2,29m x 2,2m x 0,85m) (số B).
Tại Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 27/6/2024 ghi nhận hiện trạng: Đây là phần diện tích tầng 1 nhà 99A Hồ Thị K đang sử dụng giáp nhà 99A Hồ Thị K và nhà 79 Hồ Thị K và phần hiên bà M đang sử dụng.
Căn cứ giấy chứng nhận ngày 16/7/2010, Công văn số 1145/QLĐT-CP ngày 15/5/2024 của Phòng Q cho thấy, diện tích bên phải hướng có diện tích đất, nhà (2,35+2,63)/2 x1,66 = 4,13m² ghi chú trên Giấy chứng nhận “diện tích đất, nhà hộ khác sử dụng, không công nhận”.
Căn cứ Giấy chứng nhận ngày 16/7/2010, Bản vẽ hiện trạng sử dụng nhà ngày 28/11/2007 và Bản đồ hiện trạng vị trí – Áp ranh thể hiện phần diện tích bên phải nhìn từ ngoài đường H, bà M được công nhận được giới hạn đến kích thước cạnh bên trong bên phải dài 3,6m trong đó có phần diện tích ghi chú trên Giấy chứng nhận “diện tích nhà ở, đất ở vi phạm lộ giới, được công nhận”, hoàn toàn không thể hiện phần đất (1,00m x 2,29m x 2,20m x 0,85) diện tích 2,07m² (số B) được công nhận cho bà M.
Ngoài ra, Công văn số 1145/QLĐT-CP ngày 15/5/2024 của Phòng Q, Công văn số 444/UBND ngày 26/6/2023 của Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, Tờ đăng ký nhà – đất do bà Trần Thị H đứng tên có xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường A1 ngày 27/9/1999 ghi nhận nhà 99A Hồ Thị K do bà Trần Thị H đứng tên chủ hộ khẩu thường trú từ năm 1993 cho đến nay, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, có diện tích xây dựng 15,5m², số tầng 2, tổng diện tích sàn xây dựng 31m². Phần diện tích này phù hợp với diện tích 16,1m² ghi nhận tại Bản đồ hiện trạng vị trí – Áp ranh ngày 23/12/2021, bao gồm luôn cả 02 phần diện tích đang tranh chấp.
Từ các căn cứ nêu trên xác định, phần đất bên hông cạnh nhà G Hồ T bà H cất lấn xây tường, lót gạch chiếm diện tích (phần diện tích đất số 2) không thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn. Căn cứ Điều 166, Điều 175 của Bộ luật Dân sự, Điều 166 của Luật Đất đai, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[4] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, do không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá: Bà M tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, chi phí thẩm định giá tài sản là 15.000.000 đồng, tổng cộng là 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bà T đại diện theo ủy quyền của bà M đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà H chịu chi phí thẩm định giá theo quy định của pháp luật. Do chấp nhận một phần yêu cầu của bà M nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 buộc bà Trần Thị H và ông Thi Chí T1 chịu 50% chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá tài sản. Như vậy, bà Trần Thị H và ông Thi Chí T1 có trách nhiệm hoàn trả cho bà Trần Thị M chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá tài sản với tổng số tiền là 10.000.000 đồng.
[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M.
[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí:
Bà Trần Thị H sinh năm 1960, ông Thi Chí Tân S năm 1958, thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của bà H và ông T1 có đơn xin miễn án phí. Đây là tình tiết mới, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, miễn án phí cho bà H và ông T1. Hoàn trả cho bà H và ông T1 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0035195 ngày 05/7/2023 của Chi Cục thi hành án Quận 10.
Bà Trần Thị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Trần Thị M số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0020851 ngày 29/10/2024 của Chi Cục thi hành án Quận 10.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 166, Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị M, sửa bản án sơ thẩm như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Buộc bị đơn bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 (1,10 x 1,30m x 1,26m x 1,06m) diện tích 1,38m².
- - Ghi nhận sự tự nguyện tháo dỡ của bị đơn đối với phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 2 (1,10 x 1,30m x 1,26m x 1,06m) diện tích 1,38m² của nhà nguyên đơn;
- - Buộc tháo dỡ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Không chấp nhận các yêu cầu sau của nguyên đơn:
- - Buộc bà Trần Thị H phải trả lại 1m đất lấn chiếm và lối đi ra vào đường H ở tầng 1 của nhà bà M để gia đình bà có đường đi thoát hiểm khi có sự cố xảy ra có diện tích 1,35 m² (1m x 1,38m x 1,3m x 1,01m) (số A) và tại tầng 1 diện tích 2,07 m² (1m x 2,29m x 2,2m x 0,85m) (số B).
- - Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 2 có diện tích 1,39 m² (1,06m x 1,38m x 1,3m x 1,01m) (số D).
- - Buộc bà Trần Thị H phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng đã lấn chiếm qua tầng 3 có diện tích 1,39 m² (1,06m x 1,38m x 1,3m x 1,01m) (số F).
- Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá: Buộc bà Trần Thị H và ông Thi Chí T1 phải trả cho bà Trần Thị M chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng.
- Về án phí:
- - Bà Trần Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 600.000 đồng, trừ vào số tiền 1.250.000 đồng bà M đã nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0019128 ngày 03/11/2022 của Chi Cục thi hành án dân sự Quận 10, hoàn trả cho bà M số tiền 650.000 đồng.
- - Hoàn trả cho bà H và ông T1 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0035195 ngày 05/7/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự Quận 10.
- - Hoàn trả cho bà Trần Thị M số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0020851 ngày 29/10/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự Quận 10.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Uông Văn Tuấn |
10
Bản án số 173/2025/DS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi đất bị lấn chiếm
- Số bản án: 173/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi đất bị lấn chiếm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Muôn, sửa bản án sơ thẩm như sau: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. 2. Không chấp nhận các yêu cầu sau của nguyên đơn. 3. Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
