Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 173/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đinh Thị Kiều Lương

Thẩm phán: Bà Võ Thị Thanh Phượng

Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Chiến

Bà Cao Thị Én

Bà Nguyễn Thị Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:158/2024/TLST-HS ngày 10/7/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:185/2024/QĐXX-ST ngày 31/7/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Minh T; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980 tại: tỉnh An Giang.

Nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

Nơi ở hiện nay: Không ổn định. Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: Lớp 5/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn Đ, sinh năm 1960 và con bà Phan Thị N, sinh năm 1960. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Có vợ là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983 (đã ly hôn), có 01 con: Hà Minh T2, sinh năm 1999.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 21/11/2023, bị bắt theo quyết định truy nã số 13/QĐTN-CSHS ngày 13/4/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 205/LTG-CSHS-Đ1 ngày 23/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

Bào chữa cho bị cáo theo quy định của pháp luật có Luật sư Nguyễn Thị Phương M, thuộc Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh Đ.

Bị hại: chị Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1981.

Hộ khẩu thường trú: ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Nơi cư trú: ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người làm chứng: cháu Lê Nhựt A, sinh năm 2007.

Trú tại: ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, bị hại và cháu Nhựt A có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính: Khoảng 19 giờ ngày 09/4/2022, chị Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú: ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang cùng với con trai tên Lê Nhựt A, sinh năm 2007 đang ở phòng trọ tại: ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì Hà Minh T đến chơi (chị Đ1 và T có quan hệ tình cảm với nhau). Khi đến phòng trọ, T yêu cầu chị Đ1 về sống chung nhưng chị Đ1 không đồng ý dẫn đến cả hai xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, anh Võ Văn L chủ thầu xây dựng gọi điện thoại cho chị Đ1 đi ra đường B thuộc ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai để lấy tiền công làm phụ hồ. Chị Đ1 cùng với anh Nhựt A đi bộ đến đường B thì T chạy xe mô tô đi phía sau và nói chị Đ1 lên xe T chở đi nhưng chị Đ1 không đồng ý. Chị Đ1 và anh Nhựt A đi bộ một đoạn thì T chạy xe mô tô lên chặn đầu. Sau đó, T lấy 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20cm, cán nhựa, lưỡi dao dài khoảng 10cm giấu trong cốp xe đâm vào ngực bên phải chị Đ1, chị Đ1 bỏ chạy thì T đuổi theo nắm tóc vật chị Đ1 ngã xuống đất. T cầm dao đâm liên tiếp nhiều nhát vào ngực, bụng và ta của chị Đ1. Nhìn thấy có người chạy xe mô tô ngang qua, chị Đ1 kêu cứu nên T lên xe mô tô bỏ chạy. Chị Đ1 được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2 từ ngày 09/4/2022 đến ngày 14/4/2022 xuất viện. Ngày 05/9/2022, chị Đ1 đến Công an huyện L nộp đơn tố cáo Hà Minh T. Hà Minh T sau khi gây án đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 21/11/2023 thì bị bắt theo quyết định truy nã.

Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ án là đường dân sinh thuộc Tổ D, ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Quá trình kiểm tra có chị Nguyễn Thị Đ1 xác định hiện trường và đo vẽ, chụp hình.

Biên bản nhận dạng đối tượng Hà Minh T qua ảnh do chị Nguyễn Thị Đ1 thực hiện, kết quả chị Nguyễn Thị Đ1 nhận ra được Hà Minh T là đối tượng dùng dao đâm chị Đ1 vào ngày 09/4/2022 tại ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Biên bản nhận dạng đối tượng Hà Minh T do anh Lê Nhựt A thực hiện, kết quả anh Nhựt A nhận ra được Hà Minh T là đối tượng dùng dao đâm chị Đ1 vào ngày 09/4/2022 tại ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

2. Giám định và kết luận giám định: Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0974/TgT/2022 ngày 13/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận đối với tổn thương của chị Nguyễn Thị Đ1 như sau:

a) Dấu hiệu chính qua giám định:

  • - Vết thương gan phải phẫu thuật cầm máu.
  • - Tổn thương thủng dạ dày đã xử trí (khâu dạ dày) hiện gây biến dạng dạ
  • - Vết thương thấu ngực gây tràn khí máu màng phổi phải đã phẫu thuật dẫn lưu hiện để lại mảng xơ xẹp thùy giữa phổi phải, dày dính màng phổi phải.
  • - Sẹo vùng ngực kích thước lần lượt 2,5x0,4cm.
  • - Sẹo vùng ngực kích thước lần lượt 2,10,4cm-
  • - Sẹo vùng ngực kích thước lần lượt 1,90,2cm sẹo vùng ngực kích thước lần lượt 1,5x,2cm.
  • - Sẹo vùng bụng bên phải kích thước (3x0,4cm).
  • - Sẹo vùng bụng bên phải kích thước (2x0,4cm).
  • - Sẹo mổ dẫn lưu ngực bên phải kích thước 03x0,3cm.
  • - Sẹo mổ đường trắng giữa trên rốn kích thước 10x0,5cm.
  • - Sẹo mổ dẫn lưu hố chậu phải kích thước (2x0,3cm).
  • - Sẹo 1/3 trên cẳng tay trái kích thước 02x0,3cm.
  • - Sẹo 1/3 giữa cẳng tay trái kích thước 5,5x0,3cm.

b) Kết luận: Gây nên tại thời điểm giám định

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích của nạn nhân Nguyễn Thị Đ1 là 72% (Bảy mươi hai phần trăm).

c) Kết luận khác: Vật gây thương tích vật sắc nhọn.

3. Vật chứng vụ án: 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20cm, cán nhựa màu vàng, mũi dao nhọn. Sau khi gây án Hà Minh T đã ném bỏ nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

4. Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Đ1 yêu cầu Hà Minh T bồi thường chi phí điều trị, tiền công lao động, chi phí đi lại với tổng số tiền 200.000.000 đồng. Hiện bị cáo Hà Minh T chưa bồi thường.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên buộc bị cáo Hà Minh T bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Đ1 theo quy định của pháp luật.

5. Truy tố: Cáo trạng số 136/CT-VKS-P2 ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Hà Minh T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

6. Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay bức cung. Kết luận điều tra cũng như bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước tòa hoàn toàn phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

7. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

7.1. Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng:

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý đối với vụ án và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Minh T về tội “Giết người”.

7.2. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đến cùng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

7.3. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo là người lao động, học vấn thấp. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

7.4. Điều luật áp dụng và mức án đề nghị:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 15, điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Minh T mức án từ 14 đến 16 năm tù

7.5. Về xử lý vật chứng: 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20cm, cán nhựa màu vàng, mũi dao nhọn. Sau khi gây án Hà Minh T đã ném bỏ nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

7.6. Về bồi thường dân sự: Đề nghị bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại theo quy định.

7.7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

8. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo theo quy định của pháp luật trình bày tại phiên tòa:

Hành vi của bị cáo Hà Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo đã rõ, trong quá trình điều tra bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi của mình và khi nhận kết luận điều tra cũng như ds\12" \o "Cáo"Cáo trạng thì bị cáo cũng không có ý kiến gì. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền về tính mạng, sức khỏe của người bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và đáng bị lên án. Tuy nhiên, bị cáo đã ăn năn, hối cải, thành thật khai báo, chưa có tiền án, tiền sự thuộc thành phần lao động, có hoàn cảnh khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định ở khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật s\14" \o "Hình"Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt phù hợp với hành vi sai phạm của của bị cáo, mang tính giáo dục hơn là hình phạt để bị cáo có cơ hội cống hiến cho gia đình bị cáo và xã hội nói chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo, bị hại được bảo đảm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

[2] Về nội dung vụ án.

2.1. Hành vi của bị cáo bị truy tố:

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, kết quả giám định pháp y, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản thu nhận vật chứng, cùng các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ trong vụ án, đối chiếu với lời khai của bị hại và người làm chứng, phù hợp với hành vi của bị cáo thực hiện đúng như Kết luận điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã mô tả, đã có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn tình cảm và ghen tuông vô cớ bị cáo muốn trở về sống chung như vợ chồng với chị Đ1, nhưng không được chị Đ1 chấp nhận; Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 09/4/2022, tại khu vực 25B thuộc ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Hà Minh T đã có hành vi sử dụng xe máy chặn đường chị Đ1 rồi dùng 01 con dao Thái Lan dài 20cm, lưỡi dao bằng Inox dài 15cm, bản rộng 03cm, mũi nhọn, đâm 4 nhát vào vùng bụng chị Đ1, chị Đ1 bỏ chạy bị cáo tiếp tục đuổi theo nắm tóc vật chị Đ1 ngã xuống đất, bị cáo ngồi đè lên người chị Đ1 kẹp chặt hai chân vào người chị Đ1 không cho chị Đ1 chạy thoát, tiếp tục cầm dao đâm liên tiếp nhiều nhát vào ngực của chị Đ1. Tổng cộng bị cáo sử dụng dao là hung khí nguy hiểm đâm 7 nhát vào người chị Đ1 là những vùng trọng yếu của bị hại, trong đó có 04 nhát bị cáo đâm nhát vào vùng ngực chị Đ1 gây ra vết thương thấu ngực gây tràn khí máu màng phổi phải đã phẫu thuật dẫn lưu hiện để lại mảng xơ xẹp thùy giữa phổi phải, dày dính màng phổi; 02 nhát đâm vào vùng bụng gây tổn thương thủng dạ dày đã xử trí (khâu dạ dày) hiện gây biến dạng dày, thủng gan phải phẫu thuật cầm máu và đâm 01 nhát vào cẳng tay trái chị Đ1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 72%. Hành vi của bị cáo Hà Minh T thực hiện đã phạm vào tội “Giết người” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

2.2. Đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

Con người tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm là vốn quý nhất được pháp luật bảo hộ, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đều bị trừng trị, xử lý; Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng sức khỏe của bị hại, hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, coi thường tính mạng sức khỏe người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, thể hiện bản chất coi thường pháp luật. Ngoài ra sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội còn bỏ trốn gây khó khăn trong quá trình điều tra và xử lý vụ án, bị cáo thực hiện hành vi rất quyết liệt, thực hiện hành vi phạm tội đến cùng, việc chị Đ1 không chết do yếu tố khách quan và được phát hiện kịp thời, nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm mục đích giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

[3] Về hình phạt áp dụng cho bị cáo:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đến cùng nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp chưa đạt, về nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, là dân lao động. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 15 Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa về hành vi phạm tội, tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[5] Về phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền thuốc men điều trị, tiền công chăm sóc những ngày nằm viện và tiền tổn thất tinh thần là 200.000.000₫; "C:\Users\Admin\Downloads\20" \o "tại"Tại phiên tòa bị cáo trực tiếp bồi thường cho chị Đ1 được 5.000.000đ, số tiền còn lại là 195.000.000₫ bị cáo cũng đồng ý tiếp tục bồi thường cho bị hại theo yêu cầu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 9.750.000đ (chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Minh T phạm tội “Giết người”.
  2. Áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm e khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 15 Bộ luật Hình sự.
  3. Quyết định hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Minh T 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
  4. Về bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo Hà Minh T tiếp tục bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Đ1 số tiền 195.000.000đ (một trăm chín mươi lăm triệu đồng).

  5. Thi hành án:
    • - Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật "Thi"Thi hành án dân sự.
    • - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng s\27" \o "hình"hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
    • - Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí \28" \o "hình"hình sự sơ thẩm và 9.750.000đ (chín triệu, bảy trăm, năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1),
  • - Luật sư (1).
  • VKSND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh;
  • TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
  • VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • Phòng Hồ sơ nghiệp vụ, Công an tỉnh Đồng Nai (PV 06).
  • - Cơ quan THA hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai
  • Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đồng Nai (PC 01);
  • Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai
  • Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Thi hành án TAND tỉnh Đồng Nai.
  • - Lưu hồ sơ, VP, TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Kiều Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về giết người

  • Số bản án: 173/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xuất phát từ mâu thuẫn tình cảm và ghen tuông vô cớ bị cáo muốn trở về sống chung như vợ chồng với chị Đ1, nhưng không được chị Đ1 chấp nhận; Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 09/4/2022, tại khu vực 25B thuộc ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Hà Minh T đã có hành vi sử dụng xe máy chặn đường chị Đ1 rồi dùng 01 con dao Thái Lan dài 20cm, lưỡi dao bằng Inox dài 15cm, bản rộng 03cm, mũi nhọn, đâm 4 nhát vào vùng bụng chị Đ1, chị Đ1 bỏ chạy bị cáo tiếp tục đuổi theo nắm tóc vật chị Đ1 ngã xuống đất, bị cáo ngồi đè lên người chị Đ1 kẹp chặt hai chân vào người chị Đ1 không cho chị Đ1 chạy thoát, tiếp tục cầm dao đâm liên tiếp nhiều nhát vào ngực của chị Đ1. Tổng cộng bị cáo sử dụng dao là hung khí nguy hiểm đâm 7 nhát vào người chị Đ1 là những vùng trọng yếu của bị hại, trong đó có 04 nhát bị cáo đâm nhát vào vùng ngực chị Đ1 gây ra vết thương thấu ngực gây tràn khí máu màng phổi phải đã phẫu thuật dẫn lưu hiện để lại mảng xơ xẹp thùy giữa phổi phải, dày dính màng phổi; 02 nhát đâm vào vùng bụng gây tổn thương thủng dạ dày đã xử trí (khâu dạ dày) hiện gây biến dạng dày, thủng gan phải phẫu thuật cầm máu và đâm 01 nhát vào cẳng tay trái chị Đ1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 72%. Hành vi của bị cáo Hà Minh T thực hiện đã phạm vào tội “Giết người” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger