TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NÔI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 173/2024/HSST
Ngày 07/08/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Việt Hòa;
Bà Nguyễn Thị Anh Vân.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 161/2024/TLST-HS, ngày 12/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐ-TA ngày 19/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thị L; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1992 tại Quảng Ninh; Nơi thường trú: Số B đường T, khu C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Nguyễn Văn T, Sinh năm: 1970; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên mẹ: Trần Thị Lan A, Sinh năm: 1974; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên chồng: Đỗ Mạnh C (đã ly hôn); Có một con sinh năm 2011 ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang ngày 23/3/2024, huỷ bỏ biện pháp tạm giữ ngày 01/4/2024; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Vũ Văn N; Giới tính: Nam; Sinh năm 1998 tại Hải Dương; Nơi thường trú: Thôn V, xã N, T, Hải Dương ; Chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ E, khu C, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lái máy xúc tự do; Họ và tên bố: Vũ Văn T1, Sinh năm : 1974 ; Nghề nghiệp : Lao động tự do; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị L1, Sinh năm: 1974 ; Nghề nghiệp : Nội trợ; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 10/01/2023, Công an huyện B, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 04/4/2024 ; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Tuấn N1; Giới tính: Nam; Sinh năm 1990 tại Quảng Ninh; Nơi thường trú: Tổ F, khu E, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 5/12; Nghề nghiệp: lái xe tự do; Họ và tên bố: Nguyễn Ngọc S (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị H, Sinh năm: 1968; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 240/2009/HSST ngày 28/8/2009, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt bị cáo 06 năm 06 tháng về tội Cướp tài sản; Bản án số 186/HSPT/2009 ngày 04/11/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phúc thẩm y án sơ thẩm (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/12/2013 và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án) ; Bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 04/4/2024; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đoàn Thị H1, sinh năm 1982; Nơi thường trú: B, phường B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 22/03/2024, một người nữ giới (không rõ nhân thân) sử dụng tài khoản Telegram “Quỳnh” liên lạc với anh Nguyễn Văn D (Sinh năm: 1993; Cư trú tại: Tổ C, khu L, phường H, thành phố H, Quảng Ninh, nhờ D tìm 03 người nữ giới đi sử dụng ma tuý cùng khách tại số D A, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội và thoả thuận trả cho mỗi người 8.000.000 đồng, D đồng ý. Sau đó D liên lạc với bị cáo Nguyễn Thị L, chị Triệu Thị Hồng T2 (Sinh năm: 1992, Cư trú tại: Số H, khu S, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) và Nguyễn Thị Thu H2 (Sinh năm: 1999; Cư trú tại: số D, ngõ B N, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) rủ đi làm và thoả thuận trả công 6.000.000 đồng/người, cà ba đều đồng ý. Anh D thuê bị cáo Nguyễn Ngọc Tuấn N1 lái xe mang BKS: 17A-272.87 đón cả bốn người từ H đến điểm hẹn. Anh D ngồi ghế phụ phía trước, bị cáo L ngồi hàng ghế thứ hai vị trí sau lái xe, bên phải L lần lượt là H2, T2. Khi đi được 20 phút, bị cáo L lấy từ trong túi xách của mình 01 tờ tiền 1.000 đồng, bên trong tờ tiền có ma tuý Ketamine và sử dụng một phần ma tuý bằng cách hít bằng mũi, rồi hỏi anh D: “có ke đấy anh có chơi không” thì D đồng ý và đáp “Ừ”. Bị cáo L để tờ tiền bên trong có chứa ma tuý Ketamine lên bệ tì tay của xe, anh D dùng tay phải cầm tờ tiền có chứa ma tuý Ketamine rồi để vào hốc để đồ ở cánh cửa xe chỗ D ngồi. Khoảng 10 phút sau, anh D lấy 01 tờ tiền 10.000 đồng cuốn tròn sau đó mở tờ tiền chứa ma tuý Ketamine của bị cáo L và sử dụng bằng cách sử dụng tẩu hút tự tạo từ tờ tiền 10.000 đồng rồi hít vào mũi. Sử dụng xong, anh D để tờ tiền 1.000 đồng chứa ma tuý Ketamine vào hộc cánh cửa ô tô.
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 23/3/2024, tổ công tác Công an phường Đ, quận B, Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, khi đi đến trước số D A, phường Đ, quận B, Hà Nội phát hiện xe ô tô KIA Soluto mang BKS: 17A – 272.87 đỗ ở đó và tổ công tác đã tiến hành kiểm tra và phát hiện trên hộc cánh cửa xe có 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng gấp kín, dính chất bột màu trắng. Bị cáo L và anh D khai nhận mới là sử dụng ma túy và chất bột màu trắng dính trên tờ tiền là ma túy loại Ketamine.
Vật chứng thu giữ của bị cáo L: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, sử dụng sim có số thuê bao 0981.186.968; Thu giữ của anh D: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh đen đã qua sử dụng (bị vỡ mặt kình ốp sau); 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 1000 đồng được gấp kín bên trong có dính chất bột màu trắng; 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 10.000 đồng; Thu giữ của bị cáo N1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, đã qua sử dụng, dung lượng 64GB; 01 xe ô tô hiệu KIA Soluto mang BKS: 17A – 272.87 đã qua sử dụng; Thu giữ của chị H2: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max màu xanh, đen có số sim 0362664194; Thu giữ của chị T2: 01 máy di động Iphone XS max màu đen có số sim 0967248029.
Tại Kết luận giám định số 2306 ngày 01/4/2024, Phòng K1 - Công an T kết luận: 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng gấp kín có dính ma túy loại Ketamine; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng có dính ma túy loại Ketamine.
Xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của bị cáo L, anh D cho kết quả dương tính với ma túy.
Xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của bị cáo N1, chị H2, chị T2 cho kết quả âm tính – không có chất ma túy.
Bị cáo L khai rủ anh D sử dụng ma tuý cùng do biết D cũng là người sử dụng ma tuý, còn H2, T2 và N1 không sử dụng ma tuý nên bị cáo không mời. Nguồn gốc số ma tuý bị cáo L có được là do một người nam giới (không rõ nhân thân) cho bị cáo L để sử dụng. Anh D không biết nguồn gốc ma tuý D đã sử dụng của L do đâu mà bị cáo L có.
Bị cáo N1 được anh D thuê chở lên Hà Nội. Khi lái xe, bị cáo N1 thấy bị cáo L và anh D nói chuyện với nhau và anh D có cầm 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng L để ở bệ tỷ tay trên xe, vài phút sau thấy anh D lấy 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuốn thành ống dài hình tròn rồi quay ra ngoài gần cửa kính chỗ Nam ngồi và hít bằng tờ tiền cuốn tròn, nhưng Dương hít gì thì bị cáo không biết.
Chị H2, chị T2 có biết việc bị cáo L rủ anh D sử dụng ma túy nhưng không có ý kiến gì.
Tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng anh D sử dụng làm tẩu hít ma túy là của anh D, chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh đen thu giữ là của anh D và không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý bằng hình thức trao trả lại cho anh D. Công an quận B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với anh D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 01/4/2024 theo tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP bằng hình thức phạt tiền là 1.500.000 đồng.
Chiếc xe ô tô hiệu KIA Soluto mang BKS: 17A – 272.87 thu giữ của bị cáo N1 có chủ sở hữu là anh Nguyễn Quang N2, sinh năm: 1989; Nơi thường trú: Thôn H, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình và không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã ra trao trả lại cho anh Nguyễn Quang N2.
Chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro max màu xanh, đen có số sim 0362664194 thu giữ của chị H2 và chiếc điện thoại di động Iphone XS max màu đen có số sim 0967248029 thu giữ của chị T2, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý bằng hình thức trao trả lại cho họ.
Quá trình điều tra mở rộng, ngày 03/4/2024, bị cáo Nguyễn Ngọc Tuấn N1 đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận B làm việc và đầu thú khai nhận bị cáo có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với bị cáo Vũ Văn N. Ngày 04/4/2024, bị cáo N đến Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận B để đầu thú về hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề với bị cáo N1.
Từ khoảng tháng 10 năm 2023, bị cáo N1 đánh bạc dưới hình thức chơi số lô, số đề với bị cáo N. Hai bị cáo quy ước 01 điểm lô là 23.000 đồng, nếu trúng sẽ được 80.000 đồng, nếu đánh số đề 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 70.000 đồng. Bị cáo N1 chơi các lần cụ thể như sau:
*Lần 1: Ngày 26/11/2023, bị cáo N1 nhắn tin thông qua ứng dụng Facebook để mua số đề đuôi 56,59,34,43 x 50.000 đồng = 200.000 đồng, mua số lô đuôi: 56,95 x 50 điểm; 34,43 x 25 điểm; Tổng số tiền mua đề của bị cáo N1 là 3.450.000 đồng. Kết quả: Bị cáo N1 trúng số lô 43 được 4.000.000 đồng, trừ đi số tiền gốc mua là 3.650.000 đồng thì bị cáo N1 hưởng lợi 350.000 đồng. Số tiền bị cáo N1 đánh bạc trong ngày 26/11/2023 là 7.650.000 đồng.
*Lần 2: Ngày 28/11/2023, bị cáo N1 mua số lô 15,51,93 mỗi số 50 điểm = 3.450.000 đồng và số đề 15,51,93 mỗi số 50.000 đồng = 150.000 đồng. Kết quả bị cáo N1 trúng 50 điểm số lô 15 được 4.000.000 đồng, trừ tiền gốc bị cáo N1 mua là 3.600.000 đồng thì bị cáo N1 hưởng lợi 400.000 đồng. Số tiền N1 đánh bạc trong ngày 28/11/2023 là 7.600.000 đồng.
*Lần 3: Ngày 29/11/2023, bị cáo N1 mua số lô: 02,20,63,56,65 mỗi số 20 điểm = 2.300.000 đồng. Kết quả: bị cáo N1 trúng 02 lần số lô 65 được 3.200.000 đồng, trừ tiền gốc bị cáo mua là 2.300.000 đồng thì bị cáo hưởng lợi 900.000 đồng. Số tiền bị cáo N1 đánh bạc trong ngày là 5.500.000 đồng.
*Lần 4: Ngày 30/11/2023, bị cáo N1 mua số lô 37,55 mỗi số 50 điểm, 16,61,78,87,80,88 mỗi số 25 điểm tổng = 5.750.000 đồng. Kết quả: bị cáo N1 trúng số lô 55,16,87 được 8.000.000 đồng, trừ tiền gốc bị cáo N1 mua là 5.750.000 đồng thì bị cáo N1 hưởng lợi 2.250.000 đồng. Số tiền bị cáo N1 đánh bạc trong ngày 30/11/2023 là 13.750.000 đồng.
*Lần 5: Ngày 04/12/2023, bị cáo N1 mua số lô: 68,86,58,93,67 mỗi số 50 điểm = 5.750.000 đồng và số đề: 68,86,58,93,67 mỗi số 50.000 đồng = 250.000 đồng. Kết quả bị cáo N1 thua 6.000.000 đồng. Số tiền bị cáo N1 đánh bạc ngày 04/12/2023 là 6.000.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo N1 và bị cáo N trong 05 lần là 40.500.000 đồng. Các bị cáo đã thanh toán cho nhau.
Số tiền bị cáo N1 mua số lô, số đề của bị cáo N mà bị cáo N đã nhận từ bị cáo N1 05 lần là: 3.650.000 đồng + 3.600.000 đồng + 2.300.000 đồng + 5.750.000 đồng + 6.000.000 đồng = 21.300.000 đồng và số tiền bị cáo N1 thắng do mua số lô, số đề của bị cáo N 04 lần là: 350.000 đồng + 400.000 đồng + 900.000 đồng + 2.250.000 đồng = 3.900.000 đồng. Tổng cộng số tiền thu lời bất chính của bị cáo N1 là 25.200.000 đồng.
Số tiền bị cáo N hưởng lợi từ việc đánh bạc với bị cáo N1 là 2.040.000 đồng.
Ngoài việc nhận số lô số đề của bị cáo N1 như trên, bị cáo N còn mua số lô số đề của chị Đoàn Thị H1 trong 03 ngày với số tiền đánh bạc ngày 31/8/2023 là 2.040.000 đồng, ngày 01/9/2023 là 2.340.000 đồng và ngày 02/9/2023 là 1.031.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo N và chị H1 trong 03 lần là 5.411.000 đồng. Bị cáo N được hưởng lợi 669.000 đồng.
Tổng số tiền bị cáo N hưởng lợi là 2.709.000 đồng.
Vật chứng thu giữ của bị cáo N: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax màu đen, lắp số thuê bao: 0865555362, đã qua sử dụng; Thu giữ của Đoàn Thị H1: 01 điện thoại kiểu dáng Samsung màu đen lắp số điện thoại 0984.337.xxx.
Trước khi xét xử, bị cáo N đã nộp số tiền thu lời bất chính là 2.709.000 đồng và bị cáo N1 đã nộp số tiền 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Chị H1 khai: Cuối tháng 8 năm 2023, một người nam giới (không rõ nhân thân) đến gặp chị, hướng dẫn nhận số lô, số đề của khách rồi chuyển lại cho người này qua mạng xã hội Telegram để hưởng hoa hồng với quy ước 100.000 đồng tiền ghi số đề được hưởng 5.000 đồng, 01 điểm lô 23.000 đồng, được hưởng 1.000 đồng, thanh toán tiền theo tuần. Sau đó chị ghi số lô đề cho bị cáo N như nêu trên. Đến đầu tháng 9 năm 2023, do không có khách ghi nên H1 không nhận ghi lô đề nữa và xoá ứng dụng Telegram. Chị H1 có hành vi đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, chưa có tiền án, tiền sự nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc. Ngày 26/6/2024, Công an quận B đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là 3.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, vi phạm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của chị H1. Chị H1 đã nộp tiền phạt và tiền thu lời bất chính sung quỹ Nhà nước.
Tại Bản cáo trạng số 160/CT-VKSBTL, ngày 10 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, truy tố các bị cáo Vũ Văn N, Nguyễn Ngọc Tuấn N1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 24 – 30 tháng tù;
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn N mức án từ 10 – 14 tháng tù; Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Tuấn N1 mức án từ 08 – 12 tháng tù;
+ Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2018/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo; Buộc bị cáo N nộp số tiền 2.709.000 đồng sung quỹ Nhà nước; Buộc bị cáo N1 nộp số tiền 25.200.000 đồng sung quỹ Nhà nước; Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, sử dụng số thuê bao 0981.186.968; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax màu đen, lắp số thuê bao: 0865555362; 01 điện thoại kiểu dáng Samsung màu đen lắp số điện thoại 0984.337.xxx; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng; Tịch thu sung quỹ 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, tiêu hủy số ma túy dính trên 02 tờ tiền đã được niêm phong trong 02 phong bì.
- Người bào chữa cho các bị cáo N, N1: Truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm là đúng. Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải; khi biết hành vi phạm tội của mình bị phát hiện đã tự nguyện đầu thú; Trước khi mở phiên tòa, gia đình bị cáo N đã nộp thay bị cáo toàn bộ số tiền thu lời bất chính sung công quỹ; gia đình bị cáo N1 đã nộp thay bị cáo một phần số tiền thu lời bất chính sung công quỹ; Số tiền các bị cáo đánh bạc không lớn; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo gì đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
[2]. Về tội danh, khung hình phạt:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người có liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Khoảng đêm ngày 22/3/2024, rạng sáng ngày 23/3/2024, bị cáo Nguyễn Thị L có hành vi tổ chức sử dụng trái phép ma túy loại Ketamine cho anh Nguyễn Văn D trên đường di chuyển từ thành phố H đến quận B, thành phố Hà Nội. Khoảng 03 giờ 00 ngày 23/3/2024, tại trước cửa số nhà D A, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội, qua kiểm tra hành chính, Công an phường Đ đã bắt quả tang hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo L cùng vật chứng. Quá trình điều tra mở rộng xác định: Vào các ngày 26/11/2023, 28/11/2023, 29/11/2023, 30/11/2023 và 04/12/2023, bị cáo Nguyễn Ngọc Tuấn N1 mua số lô số đề của bị cáo Vũ Văn N với số tiền đánh bạc là 40.500.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo L đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo N1, N đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
3.1. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo L
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân, xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về quản lí các chất gây nghiện. Ketamine là chất gây nghiện, gây ảo giác, gây ra tình trạng tê liệt cho người sử dụng,... làm tổn hại sức khỏe con người đặc biệt là sức khỏe tâm thần của, là mầm mống gây ra nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng ma túy loại Ketamine, biết K là chất bị nghiêm cấm mua bán, sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép nhưng vẫn tổ chức cho người khác và cho bản thân sử dụng nhằm làm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân.
3.2. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo N, N1
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng. Việc tổ chức đánh bạc, đánh bạc được thua bằng tiền dưới mọi hình thức đều phải được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân nên vẫn thực hiện.
Trong vụ án có đồng phạm: Đối với hành vi phạm tội của các bị cáo bị cáo N là người bán số lô, số đề, là người chịu trách nhiệm được thua nhưng số tiền các bị cáo đánh bạc chưa lớn nên hành vi của bị cáo N chỉ cấu thành tội “Đánh bạc”.
Các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội với vai trò người thực hành.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:
4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa đều khai báo rõ ràng, đầy đủ hành vi phạm tội với thái độ thành khẩn, ăn năn hối lỗi về hành vi vi phạm pháp luật nên đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo L lần đầu bị đưa ra xét xử, chưa từng có hành vi vi phạm pháp luật - là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo N lần đầu bị đưa ra xét xử, khi biết hành vi phạm tội của mình bị phát hiện đã ra đầu thú, đã tự nguyện nộp số tiền thu lời bất chính là 2.709.000 đồng trước khi xét xử. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo N1 khi biết hành vi phạm tội của mình bị phát hiện đã ra đầu thú, đã tự nguyện nộp số tiền thu lời bất chính là 5.000.000 đồng trước khi xét xử. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo N, N1 đã đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với nhau 05 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
4.3. Về nhân thân
Bị cáo N1: Tại Bản án số 240/2009/HSST ngày 28/8/2009, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt bị cáo 06 năm 06 tháng về tội Cướp tài sản ; Bản án số 186/HSPT/2009 ngày 04/11/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phúc thẩm y án sơ thẩm. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/12/2013 và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án, đã được xóa án tích từ lâu nhưng thế hiện bị cáo đã bị xử phạt nghiêm khắc về hình sự nhưng vẫn tiếp tục vi phạm.
Bị cáo N : Ngày 10/01/2023, Công an huyện B, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Theo quy định tại Điều 7 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì đây là tiền sự và chưa hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày bị cáo N chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
[6]. Về hình phạt:
6.1 Về hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
6.2. Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo không có việc làm và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo.
[7]. Về các vấn đề khác
7.1. Về tiền thu lời bất chính;
Bị cáo N thu lời bất chính số tiền 2.709.000 đồng và bị cáo N1 thu lời bất chính số tiền 25.200.000 đồng, cần buộc bị cáo các bị cáo phải nộp lại toàn bộ số tiền thu lời bất chính này sung công quỹ Nhà nước. Trước khi xét xử, bị cáo N đã nộp đủ số tiền thu lời bất chính là 2.709.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm (Biên lai số 0021543 ngày 07/8/2024), bị cáo N1 đã nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm (Biên lai số 0021544 ngày 07/8/2024). Bị cáo N1 phải nộp tiếp số tiền 20.200.000 đồng.
7.2. Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ của các bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, sử dụng số thuê bao 0981.186.968; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax màu đen, lắp số thuê bao: 0865555362; 01 điện thoại kiểu dáng Samsung màu đen lắp số điện thoại 0984.337.xxx; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng. Đây là phương tiện để các bị cáo, chị Đoàn Thị H1 dùng để liên lạc, thực hiện hành vi đánh bạc, liên quan đến tội phạm, cần tịch thu sung quỹ. 02 phong bì niêm phong bên trong chứa vật chứng là 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng có dính ma túy sau giám định – xác định 02 tờ tiền có giá trị, cần tịch thu sung quỹ. Số tiền thu lời bất chính chị H1 đã nộp là 2.371.000 đồng tại biên lai số 0021519 ngày 05/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm cần sung quỹ.
7.3. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn N, Nguyễn Ngọc Tuấn N1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Đối với bị cáo Nguyễn Thị L;
- Về điều luật áp dụng: khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính tù ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 01/4/2024.
- Đối với bị cáo Vũ Văn N;
- Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Vũ Văn N 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
- Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Tuấn N1;
- Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Tuấn N1 08 (T3) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
- Về các vấn đề khác: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2018/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Vũ Văn N phải nộp số tiền thu lời bất chính là 2.709.000 đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền sung quỹ nêu trên tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm (Biên lai số 0021543 ngày 07/8/2024).
- Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Tuấn N1 nộp số tiền thu lời bất chính là 25.200.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm (Biên lai số 0021544 ngày 07/8/2024). Bị cáo N1 phải nộp tiếp số tiền 20.200.000 đồng.
- Về vật chứng vụ án:
Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, lắp sim số thuê bao 0981.186.968; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Promax màu đen, lắp số thuê bao: 0865555362; 01 điện thoại kiểu dáng Samsung màu đen lắp sim số thuê bao 0984.337.622; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng; Tịch thu sung quỹ 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, tịch thu tiêu hủy số ma túy bám dính trên 02 tờ tiền trên đã được niêm phong trong 02 phong bì bên trong chứa ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Nguyễn Văn D, giám định viên cùng cán bộ niêm phong. Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 124/24 ngày 19/03/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm. Tịch thu sung quỹ số tiền 2.371.000 đồng chị Đoàn Thị H1 đã nộp tại biên lai số 0021519 ngày 05/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
- Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
- - Người tham gia tố tụng;
- - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
- - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội;
- - Viện kiểm sát nhân dân Q. Bắc Từ Liêm;
- - Công an quận Bắc Từ Liêm;
- - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm;
- - Sở Tư pháp TP Hà Nội;
- - Lưu hồ sơ; Văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Loan |
Bản án số 173/2024/HSST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và đánh bạc
- Số bản án: 173/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng đêm ngày 22/3/2024, rạng sáng ngày 23/3/2024, bị cáo Nguyễn Thị L có hành vi tổ chức sử dụng trái phép ma túy loại Ketamine cho anh Nguyễn Văn D trên đường di chuyển từ thành phố Hạ Long đến quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Khoảng 03 giờ 00 ngày 23/3/2024, tại trước cửa số nhà 1 DV, phường Đ, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, qua kiểm tra hành chính, Công an phường Đ đã bắt quả tang hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Liên cùng vật chứng
