Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 173/2024/HS-ST

Ngày: 12/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Bùi Bá Huynh;
    • Ông Vương Đình Quang.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xét xử trực tuyến - Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 110/2024/TLST- HS ngày 25/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HS ngày 13/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn P -Sinh năm: 1979

NKTT: xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không

Văn hóa: 02/12-Nghề nghiệp: Tự do

Con ông: Đặng Văn H - (đã chết)

Con bà: Đỗ Thị T -Sinh năm: 1951

Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ ba

Vợ: Nguyễn Thị T1 – Sinh năm 1982

Bị cáo có 04 con, Con lớn sinh năm: 2003, con nhỏ sinh năm: 2017.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/01/2024, tạm giữ từ ngày 12/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/1/2024, tổ công tác Công an phường P thực hiện công tác tuần tra trên đường T giao với đường T. Khi đến ngã tư hướng vào đường N, phường C, quận N, Hà Nội, đối diện số nhà B phát hiện Đặng Văn P có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, P tự nguyện giao nộp trong lòng bàn tay trái 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tại chỗ, P khai nhận chất bột trên là ma túy Heroin Phú mua về sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và dẫn giải P về trụ sở làm rõ (BL 22,23).

*Vật chứng thu giữ:

  • - 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (BL27);
  • - 01 điện thoại in chữ GOLY màu xanh gắn sim 0902114180 (BL23);

Quá trình điều tra xác định:

Bản thân Đặng Văn P là người nghiện ma túy heroin, không có công việc ổn định. Ngày 09/01/2024, P đi từ Nam Định xuống Hà Nội mục đích đi lang thang tìm việc làm. Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 11/1/2024, P đến quán nước tại ngã tư N giao T, phường C, quận N, Hà Nội, trong quá trình ngồi uống nước P gặp một nam thanh niên (không xác định được nhân thân, lai lịch) có biểu hiện nghiện ma túy nên đã nên đã nhờ nam thanh niên trên mua hộ 300.000đồng ma túy Heroine để sử dụng và nam thanh niên đã đồng ý. Sau khi đưa tiền thì nam thành niên trên đi một lúc quay về đưa cho P 01 gói giấy màu bạc mày trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroin. P cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái đi bộ tìm địa điểm sử dụng. Khi đi đến đối diện số nhà B đường N, Cầu D, N, Hà Nội, thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang như trên (BL 21, 22).

Tại kết luận giám định số 712A ngày 18/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,186gam (BL 33).

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, P khai nhờ một người (hiện không xác định được nhân thân, lai lịch mua hộ). Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng trên nên không có căn cứ xử lý (BL55, 56,57, 58).

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Văn P đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, bị cáo Đặng Văn P bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận bị cáo Đặng Văn P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c, Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c, Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Đặng Văn P mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Tòa tuyên:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Đặng Văn P, cán bộ Công an quận N và giám định viên.
  • + Trả lại cho bị cáo P 01 điện thoại di động Goly có gắn sim (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng tình trạng hoạt động của máy).

Lời nói sau cùng bị cáo thấy ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, tại khu vực trước cửa số nhà B đường N, phường C, N, Hà Nội, Đặng Văn P có hành vi tàng trữ trái phép 0,186 gam ma túy Heroin để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường P phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo Đặng Văn P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c, Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo P thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tình tiết tăng nặng: Không.

[5] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên: Xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án đã bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm là:

  • + 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Đặng Văn P, cán bộ Công an quận N và giám định viên – cần tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 điện thoại di động Goly có gắn sim (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng tình trạng hoạt động của máy) – không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo P.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c, khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Đặng Văn P 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.

Xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Đặng Văn P, cán bộ Công an quận N và giám định viên.
  • + Trả lại cho bị cáo P 01 điện thoại di động Goly có gắn sim (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng tình trạng hoạt động của máy).

(Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng số 187 ngày 24/4/2024).

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Q.Nam Từ Liêm;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an Q.Nam Từ Liêm;
  • - TT lý lịch- Sở Tư pháp TP . Hà Nội;
  • - Chi cục THADS Q.Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thúy Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 173/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249 truy tố Bị cáo Đặng Văn P phạm tội "Tàng trữ ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger