|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 173/2024/HS-PT Ngày 12 tháng 11 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Giao
Các Thẩm phán: Ông Trần Hoàng Vũ, bà Phan Thị Minh Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Yến Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Hải - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 273/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Văn N và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Văn N (Út B), sinh năm 1967; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị T1 (chết); vợ Lê Thị T2, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/02/2020, tham gia đánh bạc trái phép, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đang thụ lý, kiểm tra, xác minh nguồn tin. Ngoài ra, ngày 16/7/2021, tham gia đánh bạc trái phép với nhiều người, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C khởi tố vụ án hình sự về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, đang điều tra xử lý. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Huỳnh Văn T3, sinh năm 1982; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn C và bà Lê Thị Mỹ C1; vợ Lê Thị Cẩm L (đã ly hôn) có 02 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn G (C2), sinh năm 1971; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (chết) và bà Lâm Thị B1 (chết); Vợ Nguyễn Thanh Thùy H, có 4 con. tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 01/02/2021, tham gia đánh bạc trái phép với nhiều người, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C khởi tố về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, đang điều tra xử lý. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn G: Bà Nguyễn Tố Q là Luật sư – Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A.
- Võ Văn N1, sinh năm 1975; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Ngọc T4 (chết) và bà Nguyễn Thị H1 (chết); Vợ Lê Thị H2, có 3 con. Tiền án; Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Lê Thị Cẩm H3, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Thái H4, Phan Đức V và Nguyễn Thị Phúc H5; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không triệu tập; Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/6/2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Đội Cảnh sát hình sự - Công an huyện C kiểm tra, phát hiện Lê Thị Cẩm H3, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thái H4, Nguyễn Văn G, Phan Đức V, Võ Văn N1, Nguyễn Thị Phúc H5, Huỳnh Văn T3 đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền, do người đàn ông lạ (không rõ họ tên, địa chỉ) làm cái, tại khu vực đất trống của Nguyễn Văn D thuộc ấp K, xã K.
Quá trình điều tra các bị cáo Lê Thị Cẩm H3, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thái H4, Nguyễn Văn G, Phan Đức V, Võ Văn N1, Nguyễn Thị Phúc H5, Huỳnh Văn T3 khai nhận đã thực hiện hành vi tham gia đánh bạc bằng hình thức đặt cược tài xỉu được thua bằng tiền, bị bắt quả tang, thu giữ 17.280.000 đồng dùng đánh bạc (trên người các bị can 17.120.000 đồng và 160.000 đồng tại nơi đánh bạc). Cụ thể: Thu giữ của H3 2.850.000 đồng, Nghe 8.500.000 đồng, L1 1.230.000 đồng, H4 2.850.000 đồng, G 4.500.000 đồng, V 1.850.000 đồng, N1 40.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới đã tuyên bố các bị cáo Lê Thị Cẩm H3, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thái H4, Nguyễn Văn G, Phan Đức V, Võ Văn N1, Nguyễn Thị Phúc H5, Huỳnh Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt
bị cáo Nguyễn Văn N (Út Bô) 10 tháng tù, bị cáo Huỳnh Văn T3, bị cáo Nguyễn Văn G (Cào) và bị cáo Nguyễn Văn N2 cùng mức án 6 (sáu) tháng tù. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo H3, L1, H4, V và H5, các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 04/9/2024, bị cáo T3 có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo; bị cáo G và bị cáo N2 kháng cáo xin được phạt tiền hoặc hưởng án treo. Ngày 5/9/2024, bị cáo N kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lý do kháng cáo:
- - Bị cáo Nghe: đang bị bệnh thoát vị đĩa đệm, đi lại khó khăn, đang điều trị, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Bị cáo G: đang điều trị bệnh lao, đang nuôi chị bị bệnh hiểm nghèo và em bị câm, điếc bẩm sinh.
- - Bị cáo T3 và N2 là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo N2 đang bị điều trị bệnh tim.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- + Chấp nhận kháng cáo của bị cáo N, giảm hình phạt, xử phạt bị cáo N mức án từ 6 tháng đến 9 tháng tù.
- + Chấp nhận kháng cáo của bị cáo T3, N2: Xử phạt bị cáo T3 và bị cáo N2 mức án 6 tháng tù nhưng cho các bị cáo hưởng án treo.
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo G
Người bào chữa của bị cáo G đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo G về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn là lao động chính phải nuôi người thân bị bệnh, bản thân bị cáo đang phải điều trị bệnh lao, bị cáo có nhiều đóng góp trong hoạt động xã hội tại địa phương nên đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc người thân.
Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên đã được cấp sơ thẩm xem xét; ngoài vụ án đang xét xử, bị cáo G đang bị khởi tố về tội “Đánh bạc”, không đủ điều kiện cho bị cáo hưởng án treo.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: các bị cáo xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn T3, Nguyễn Văn G và Nguyễn Văn N2 hợp lệ, kháng cáo trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét giải quyết.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về tội danh:
Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ để xác định:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/6/2022, tại khu vực thuộc ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; các bị cáo Lê Thị Cẩm H3, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thái H4, Nguyễn Văn G, Phan Đức V, Võ Văn N1, Nguyễn Thị Phúc H5, Huỳnh Văn T3 có hành vi tham gia đánh bạc bằng hình thức đặt cược tài xỉu được thua bằng tiền, bị bắt quả tang, thu giữ số tiền 17.280.000 đồng đã và sẽ dùng vào việc đánh bạc.
Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[5] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 10 tháng tù, các bị cáo T3, G, N1 6 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[6] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo:
[6.1] Đối với bị cáo Nguyễn Văn N: Bị cáo cung cấp thêm bệnh án đang điều trị thoát vị đĩa đệm, bị cáo đi lại khó khăn. Để tạo điều kiện cho bị cáo N điều trị bệnh, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6.2] Bị cáo Nguyễn Văn G: trình bày tại phiên tòa phúc thẩm hiện bị cáo đang nuôi chị bị bệnh hiểm ngheo, em bị cáo bị câm điếc bẩm sinh các tình tiết bị cáo và người bào chữa trình bày tại phiên tòa phúc thẩm đã được xem xét tại cấp sơ thẩm bị cấp sơ thẩm xử phạt 6 tháng tù, là mức khởi đầu của khung hình phạt; ngoài ra, bị cáo đang bị khởi tố về tội “Đánh bạc” trong vụ án khác, không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[6.3] Đối với bị cáo Huỳnh Văn T3 và bị cáo N1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn là lao động chính phải nuôi gia đình; các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51; không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; nếu không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và phù hợp với tinh thần nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, yêu cầu kháng cáo của bị cáo T3 và N1 và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo N, T3, N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[8] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo N, T3, N1, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo G; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về hình phạt đối với các bị cáo, Nghe, T3, N1.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn G, Võ Văn N1, Huỳnh Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N (Ú) 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T3 6 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Huỳnh Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời thời gian thử thách.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G (Cào) 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N2 6 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn N2 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nghe, T3, N2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Giao |
Bản án số 173/2024/HS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 173/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
