Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 173/2024/DS-ST

Ngày: 30 - 8 - 2024

V/v Tranh chấp dân sự - Ranh

giới quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Chí Sĩ.

Ông Nguyễn Minh Đoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Kim Xoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa:

Bà Cao Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1020/2020/TLST-DS ngày 18/12/2020, về việc “Tranh chấp dân sự - Ranh giới quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 415/2024/QĐXXST-DS ngày 05/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 444/2024/QĐST-DS, ngày 15/8/2024 giữa các đương sự:

1.1. Nguyên đơn: Nguyễn Thanh N, sinh năm: 1947; (có mặt)

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thanh N là anh Trần Đình H, sinh năm: 1989. Địa chỉ: số B, đường N, thành phố C, Đồng Tháp (có mặt).

1.2. Bị đơn:

1.2.1. Nguyễn Văn T, sinh năm: 1963;

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

1.2.2. Thiệu Thị C, sinh năm: 1968;

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

1.2.3. Nguyễn Thị Thu T1 (M), sinh năm: 1989;

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

1.2.4. Hồ Văn Bé H1, sinh năm: 1956;

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

1.2.5. Nguyễn Văn Minh T2, sinh năm: 1987;

Đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Văn T, Thiệu Thị C, Nguyễn Thị Thu T1 (Mèo), Nguyễn Văn Minh T2, Hồ Văn Bé H1 là bà Võ Thị N1, sinh năm: 1957. Địa chỉ: Tổ A, Khóm B, Phường D, TP C, Đồng Tháp. (có mặt).

1.2.6. Lê Việt T3, sinh năm: 1993; (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

1.2.7. Nguyễn Văn A, sinh năm: 1982; (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Văn A là luật sư Đặng Hồng Đ – Văn phòng luật sư Đặng Hồng Đ, thuộc đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp. (có mặt).

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

1.2.8. Nguyễn Thị T4, sinh năm: 1983; (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

1.2.9. Bạch Thị Đ1, sinh năm: 1956; (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

1.2.10. Lê Văn T5, sinh năm: 1954; (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

1.2.11. Phạm Phước L, sinh năm: 1995; (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

1.2.12. Nguyễn Văn T6, sinh năm: 1973; (đã chết)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T6:

  • - Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm: 1985 (vợ ông T6); (có đơn xin giải quyết vắng mặt);
  • - Nguyễn Nhật L1, sinh năm: 1989 (con ông T6); (có đơn xin giải quyết vắng mặt);
  • - Nguyễn Nhật Gia B, sinh năm: 2020 (con ông T6).

Đại diện theo pháp luật của Nguyễn Nhật Gia B là chị Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm: 1985.

Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

1.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.3.1. Lê Thị T7, sinh năm: 1956; (có đơn xin giải quyết vắng mặt)

1.3.2. Nguyễn Thị Thanh N2, sinh năm: 1983; (có đơn xin giải quyết vắng mặt)

1.3.3. Nguyễn Thị Hồng N3, sinh năm: 1985; (có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

1.3.4. Hồ Minh H3, sinh năm: 1974; (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Nguyễn Thanh N và người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thanh N là anh Trần Đình H trình bày: Ngày 04/01/2013, ông N được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất diện tích 190m² (đất thủy lợi), thửa 102, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Nguồn gốc phần đất nêu trên là ông N nhận chuyển nhượng của bà Huỳnh Kim Đ2 vào năm 1985.

Đến năm 1995 ông N nhận chuyển nhượng thêm của bà Đ2 diện tích đất khoảng 40m² với số tiền 200.000đồng. Phần đất này cặp ranh với phần đất ông N nhận chuyển nhượng của bà Đ2 năm 1985. Ông N chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Mục đích ông N nhận chuyển nhượng các phần đất của bà Đ2 là để đào đường nước làm lối đi và vận chuyển trái cây từ phần đất phía trong của ông N đi bán.

Từ khoảng năm 2014 đến nay phần đất của ông N đã bị nhiều hộ giáp ranh lấn chiếm, cụ thể như sau:

  • - Năm 2014 hộ ông Nguyễn Văn T là đã tự ý trồng cây trên phần đất của ông N. Năm 2015 ông T tiếp tục xây dựng nhà tắm, chuồng gà lấn của ông N diện tích đất khoảng 7,2m². Diện tích lấn chiếm theo đo đạc thực tế là 3,2m², tại vị trí M12, M13, M14. Phần đất này do anh Nguyễn Văn A đứng tên quyền sử dụng đất, thuộc thửa số 101, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại Ấp A, xã M, huyện C, Đồng Tháp.
  • - Bà Nguyễn Thị T4 xây dựng 01 căn phòng cho con trai là Nguyễn Văn Minh T2 và con dâu là Lê Việt T3 sinh sống lấn qua diện tích đất của ông N khoảng 14m². Ông Nguyễn Văn A xây dựng nhà lấn qua phần đất của ông N khoảng 7m². Diện tích lấn chiếm theo đo đạc thực tế là 3,5m², tại vị trí M21, MB, M20, M18, M19, MA, M22 về M21. Phần đất này do anh Nguyễn Văn A đứng tên quyền sử dụng đất, thuộc thửa số 74, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại Ấp A, xã M, huyện C, Đồng Tháp.
  • - Bà Bạch Thị Đ1 lấn chiếm của ông N diện tích đất khoảng 32m² (ngang 0,8m x dài khoảng 40). Đây là phần đất ông N nhận chuyển nhượng của bà Đ2 năm 1995. Diện tích lấn chiếm tại vị trí M5, M7, M8, M6 về M5. Phần đất này do bà Bạch Thị Đ1 đứng tên quyền sử dụng đất, thuộc thửa số 72, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại Ấp A, xã M, huyện C, Đồng Tháp.
  • - Ông Hồ Văn Bé H1 xây dựng nhà bếp, làm cống lấn chiếm của ông N diện tích đất khoảng 100m². Diện tích lấn chiếm tại vị trí M16, M17, M15 về M16; M15, M14, M13 về M15 và M9, M10, M31, M11, M12 về M19. Phần đất này do ông Hồ Văn Bé H1 đứng tên quyền sử dụng đất, thuộc thửa số 106, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại Ấp A, xã M, huyện C, Đồng Tháp.
  • - Ông Lê Văn T5 lấn chiếm của ông N diện tích đất khoảng 2,1m². Diện tích lấn chiếm tại vị trí M16, M17, M19, M18 về M16, diện tích 3,2m². Phần đất này do ông Lê Văn T5 đứng tên quyền sử dụng đất, thuộc thửa số 100, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại Ấp A, xã M, huyện C, Đồng Tháp.

Nay ông N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh giải quyết các nội dung sau đây:

  • + Yêu cầu ông Nguyễn Văn T, bà Thiệu Thị C, chị Nguyễn Thị Thu T1 (Mèo), anh Phạm Phước L tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, vật kiến trúc trả lại phần đất lấn chiếm theo diện tích thực tế tranh chấp.
  • + Yêu cầu ông Nguyễn Văn Minh T2, bà Lê Việt T3 tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, vật kiến trúc trả lại phần đất lấn chiếm theo diện tích thực tế tranh chấp.
  • + Yêu cầu ông Nguyễn Văn T6 tháo dỡ toàn bộ tài sản, vật kiến trúc trả lại phần đất lấn chiếm theo diện tích thực tế tranh chấp.
  • + Yêu cầu ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị T4 tháo dỡ toàn bộ tài sản, vật kiến trúc trả lại phần đất lấn chiếm theo diện tích thực tế tranh chấp.
  • + Yêu cầu bà Bạch Thị Đ1 trả lại phần đất lấn chiếm theo diện tích thực tế tranh chấp.
  • + Yêu cầu ông Lê Văn T5 trả lại phần đất lấn chiếm theo diện tích thực tế tranh chấp.
  • + Yêu cầu ông Hồ Văn Bé H1 tháo dỡ toàn bộ tài sản, vật kiến trúc trả lại phần đất lấn chiếm theo diện tích thực tế tranh chấp.

Ông Nguyễn Thanh N thống nhất với sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh. Đồng thời thống nhất giá trị tài sản tranh chấp theo biên bản định giá của Hội đồng định giá.

Bị đơn anh Nguyễn Văn A trình bày: Anh Nguyễn Văn A không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh N về việc buộc anh A phải tháo dỡ toàn bộ tài sản, vật kiến trúc để trả lại phần đất tranh chấp cho ông N.

Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Huỳnh Kim Đ2 là mẹ ruột của anh A đã cho anh A sử dụng từ lâu nay. Về nguồn gốc con mương mà ông N được cấp quyền sử dụng đất là do gia đình anh A trực tiếp đào từ trước năm 1975 để dẫn nước. Do con mương dài dọc theo có nhiều hộ cặp hai bên bờ mương sử dụng, trong đó có hộ ông Nguyễn Thanh N ở hậu đất nên trong hồ sơ địa chính mới ghi là “Đất thủy lợi”. Khi anh A đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2010 thì cán bộ địa chính trả lời “phần đất này là con mương thủy lợi, được sử dụng công cộng, không cấp cho cá nhân”. Mặc dù anh A trực tiếp sử dụng con mương từ lâu. Bà Đ2 đã giao cho anh A đứng tên quyền sử dụng đất (kể cả con mương cặp theo là phần đất tranh chấp). Cho nên vào ngày 28/6/2010 UBND huyện C đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh A, trong đó sơ đồ ghi rõ “Thủy lợi”.

Bà Huỳnh Kim Đ2 không hề bán phần đất này cho ông N, giấy bán đất mà ông N xuất trình là gian dối, không đúng sự thật vì các chữ ký đều là chữ ký giả mạo. Anh A yêu cầu Tòa án xác minh và cần thiết quyết định giám định các chữ ký trong Tờ bán đất ngày 10/7/1995 để làm rõ sự thật khách quan. Ông N còn khai bà Đ2 bán miệng cho mẹ ông N trước đó là vô căn cứ.

- Ngày 04/01/2013 ông N mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (được cấp sau anh A), nhưng anh A không hề được biết và hồ sơ cấp giấy này anh A và những người có giáp ranh dọc theo đường nước Nguyễn Văn T, Thiệu Thị C, Nguyễn Thị Thu T1, Nguyễn Văn Minh T2, Lê Việt T3, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Văn T6, Bạch Thị Đ1, Lê Văn T5, Hồ Văn Bé H1 không ký giáp ranh. Không biết vì sao ông N lại được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Anh Nguyễn Văn A có yêu cầu phản tố là yêu cầu Tòa án xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Thanh N do UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Thanh N ngày 04/01/2013.

Tại phiên tòa anh A thừa nhận nguồn gốc đất tranh chấp trước đây là của bà Huỳnh Kim Đ2 là mẹ của anh A chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó anh A đã hiến phần đất này cho nhà nước để làm thủy lợi. Việc ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh A không đồng ý.

Anh Nguyễn Văn A thống nhất với sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh. Đồng thời thống nhất giá trị tài sản tranh chấp theo biên bản định giá của Hội đồng định giá.

Bị đơn ông Hồ Văn Bé H1 đại diện là bà Võ Thị N1 trình bày: Phần đất mà ông Nguyễn Thanh N tranh chấp với ông Hồ Văn Bé H1 có nguồn gốc là của ông Hồ Văn Bé H1 thuộc thửa số 106, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại Ấp A, xã M, huyện C, Đồng Tháp. Ông Hồ Văn Bé H1 đã sử dụng ổn định từ trước cho đến nay và đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thống nhất theo yêu cầu của ông Nguyễn Thanh N.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Thiệu Thị C, bà Nguyễn Thị Thu T1 (M), ông Nguyễn Văn Minh T2 đại diện là bà Võ Thị N1 trình bày: Phần đất tranh chấp thuộc thửa số 74 và thửa số 101, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, Đồng Tháp, có nguồn gốc là của bà Huỳnh Kim Đ2 và bà Đ2 đã cho lại anh A đứng tên quyền sử dụng đất từ trước cho đến nay. Nay Không đồng ý với trình bày và yêu cầu của ông Nguyễn Thanh N.

Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm:

  • - Sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Đồng Tháp ngày 13/8/2024 (bản chính);
  • - Công văn số 523/UBND-HC, ngày 12/8/2024 của UBND xã M (bản chính);
  • - Công văn số 11725/CNVPĐKĐĐHCL – CCTT, ngày 16/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Đồng Tháp (bản chính);
  • - Hóa đơn bán hàng, hợp đồng đo đạc, biên bản thanh lý hợp đồng, biên bản nghiệm thu hoàn thành và bàn giao tài sản của Trung tâm K (bản chính);
  • - Bản tự khai của Nguyễn Thị Ngọc H2, Nguyễn Nhật L1 ngày 26/7/2024 (bản chính);
  • - Trích lục kết hôn số 529/TLKH-BS, ngày 09/11/2016 của UBND xã M (bản chính);
  • - Trích lục khai tử số 447/TLKH-BS, ngày 24/7/2024 của UBND xã M (bản chính);
  • - Văn bản thỏa thuận ngày 18/12/2023 giữa Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị T4 và anh Nguyễn Văn A (bản chính);
  • - Công văn số 156/UBND-HC, ngày 18/11/2019 của UBND xã M (bản chính);
  • - Biên bản hòa giải tranh chấp ranh đất (bản sao y);
  • - Công văn số 206/UBND-HC, ngày 12/11/2018 của UBND xã M (bản chính);
  • - Trích lục bản đồ địa chính số 99/TL.ĐC, ngày 02/03/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (bản chính);
  • - Công văn số 228/UBND-HC, ngày 19/6/2017 của UBND xã M (bản chính)
  • - Văn bản ghi ý kiến của Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn T, Thiệu Thị C, Phạm Phước L, Nguyễn Thị Thu T1, Lê Việt T3, Nguyễn Văn Minh T2, Nguyễn Thị T4 và Hồ Minh H3, ngày 11/6/2018 (bản chính);
  • - Tờ tường trình của Nguyễn Văn A, ngày 12/12/2023 (bản chính);
  • - Tờ khai quan hệ hàng thừa kế ngày 11/12/2023 (bản chính);
  • - Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/12/2022, 29/01/2021, 26/3/2021, 13/4/2021, 18/4/2023, 09/4/2024 (bản chính);
  • - Biên bản lấy lời khai đương sự ngày 03/3/2021, 26/3/2021 (bản chính);
  • - Công văn số 526/UBND-TNMT, ngày 27/4/2022 của UBND huyện C (bản chính).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Nguyễn Văn A trình bày: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong vụ án đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không có kiến nghị gì.
  • Về nội dung vụ án: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh N, công nhận hiện trạng thực tế các đương sự đang sử dụng theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Theo phạm vi các mốc M22, MA, MB, M20, M19, M17, M15, M14, M12, M9, M8, M6, M5, M23, M3, M2, M1về M22 và yêu cầu các đương sự di dời tài sản của mình đi nơi khác để trả lại đất theo các vị trí được Tòa án công nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu các bị đơn trả lại phần đất đã lấn chiếm và di dời các tài sản đi nơi khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”. Quyền sử dụng đất các bên đang tranh chấp tọa lại tại ấp A, xã M, huyện C, Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Việt T3, Nguyễn Thị T4, Bạch Thị Đ1, Lê Văn T5, Phạm Phước L, Hồ Minh H3 đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.

[1.3] Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Lê Việt T3, Nguyễn Thị T4, Bạch Thị Đ1, Lê Văn T5, Phạm Phước L, Hồ Minh H3 vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; thông báo hòa giải và công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng các đương sự vẫn không có mặt cũng như không có văn bản nêu ý kiến, cũng không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để giải quyết vụ án. Do đó, các đương sự vắng mặt đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa ông Nguyễn Thanh N yêu cầu các bị đơn Nguyễn Văn T, Thiệu Thị C, Nguyễn Thị Thu T1 (Mèo), Hồ Văn Bé H1, Nguyễn Văn Minh T2, Lê Việt T3, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Văn T6, Bạch Thị Đ1, Lê Văn T5, Phạm Phước L trả lại phần đất lấn chiếm thuộc thửa số 192, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, Đồng Tháp và di dời các tài sản lấn chiếm đi nơi khác theo vị trí kích thước mà ông N xác định tại các mốc M1, M2, M3, M4, M6, M8, M9, M10, M31, M11, M12, M13, M15, M16, M18, M20, MB, M21, theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Đồng Tháp cung cấp.

[2.1] Hội đồng xét xử xét thấy: Ông N cho rằng phần đất tranh chấp ranh là phần đất ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, Công văn số 526/UBND-TNMT, ngày 27/4/2022 của UBND huyện C xác định các thửa đất tranh chấp số 102, 101, 74, 72, 73, 100, 106, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại Ấp A, xã M, huyện C, Đồng Tháp. Xác định khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có đo đạc thực tế, các bên giáp ranh không thống nhất với vị trí của ông N xác định. Đồng thời vị trí của ông N cho rằng mình bị lấn ranh thì hiện trạng thực tế các đương sự anh Nguyễn Văn A, ông Nguyễn Văn T8, bà Bạch Thị Đ1, ông Hồ Văn Bé H1 hiện đang sử dụng ổn định xây nhà và hàng rào bao quanh. Khi ông A, bà Đ1 cất nhà và xây dựng hàng rào trên đất thì ông N cũng không có ngăn cản gì. Mặt khác, ông N cũng không có chứng cứ gì chứng minh các bị đơn lấn chiếm đất của ông, do đó ông N cho rằng mình bị lấn ranh là không có cơ sở xác định, nên không chấp nhận.

[2.2] Việc ông N cho rằng ngoài thửa 102, tờ bản đồ số 07 mà ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì còn phần đất mà ông N mua thêm của bà Đ2 nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng thực tế trên sơ đồ đo đạc và trích lục bản đồ địa chính không có phần đất nào chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mà tứ cận thửa 102 giáp với các thửa đất của ông Hồ Văn Bé H1, bà Bạch Thị Đ1, ông Nguyễn Văn T8, ông Ngô Thiên T9, anh Nguyễn Văn A. Nên trình bày của ông N cho rằng, ông N còn phần đất khác chưa đăng ký quyền sử dụng đất là không có cơ sở để chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Văn A yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N vì anh A cho rằng đây là phần đất của bà Huỳnh Kim Đ2 và bà Đ2 đã cho lại cho anh. Sau đó, anh A đã hiến phần đất thuộc thửa số 102, tờ bản đồ số 07 cho nhà nước, chứng tỏ phần đất thuộc thửa 102, tờ bản đồ số 07 không thuộc quyền quản lý, sử dụng của anh A. Do đó, anh A không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu của anh A là phù hợp quy định pháp luật.

[3]. Đối với trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Văn A là có cơ sở một phần như trình bày ở trên nên chấp nhận.

[4] Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện C là có căn cứ và phù hợp với nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích trên, căn cứ Điều 357, Điều 401, Điều 468; Điều 500, Điều 501 và Điều 502 Bộ luật dân sự; Điều 3, Điều 167 và Điều 203 Luật đất đai, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là chưa có căn cứ nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ranh giới quyền sử dụng đất tranh chấp được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian xuống lòng đất. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh lại diện tích quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

[5] Án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N không được chấp nhận nên ông N phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 166, 174, 175, 176, 186, 246 của Bộ luật Dân sự;

Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 262; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 24 Điều 3; Điều 170; Điều 171 và Điều 203 của Luật Đất đai;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh N đối với bị đơn Nguyễn Văn T, Thiệu Thị C, Nguyễn Thị Thu T1 (Mèo), Hồ Văn Bé H1, Nguyễn Văn Minh T2, Lê Việt T3, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Văn T6, Bạch Thị Đ1, Lê Văn T5, Phạm Phước L.
  • - Đình chỉ yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Văn A đối với việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh N.
  • - Ranh giới quyền sử dụng đất thửa 102 với các thửa đất 74, 101, 72, 73, 100, 106, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại xã M, huyện C, Đồng Tháp là đường thẳng nối từ các mốc M1, M2, M3, M23, M5, M6, M8, M9, M12, M14, M15, M17, M19, M20, MB, MA, M22 về M1, theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Ranh giới quyền sử dụng đất trên được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian xuống lòng đất.
  • - Buộc các đương sự Nguyễn Thanh N, Nguyễn Văn T, Thiệu Thị C, Nguyễn Thị Thu T1 (Mèo), Hồ Văn Bé H1, Nguyễn Văn Minh T2, Lê Việt T3, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thị Ngọc H2, Nguyễn Nhật L1, Bạch Thị Đ1, Lê Văn T5, Phạm Phước L, Lê Thị T7, Nguyễn Thị Thanh N2, Nguyễn Thị Hồng N3, Hồ Minh H3 trong vụ án phải di dời tài sản ra khỏi phần đất lấn chiếm (nếu có).
  • - Kèm theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C đo vẽ ngày 13/8/2024; biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/4/2021; ngày 18/4/2023 và ngày 05/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh và đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án và phải chịu các khoản thu theo quy định pháp luật (nếu có).

Về chi phí tố tụng:

Do yêu cầu của ông Nguyễn Thanh N không được chấp nhận nên ông Nguyễn Thanh N phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng, đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ là 19.211.000₫ (ông N đã nộp và chi xong).

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Nguyễn Thanh N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 300.000đ cho ông Nguyễn Thanh N đã nộp, theo biên lai thu số 0012033, ngày 16/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
  • - Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 300.000đ cho anh Nguyễn Văn A đã nộp, theo biên lai thu số 0014657, ngày 21/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Cao Lãnh;
  • - THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự - ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 173/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự - Ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T/C RANH GIỚI QSDĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger