|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 173/2023/HS-ST
Ngày: 21-12-2023
-
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Tống Thị Kim Điền;
- Bà Hồ Thị Lệ Thu.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuynh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 241/2023/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2023/QĐXXST-HS ngày 04/12/2023 đối với bị cáo họ và tên:
Nguyễn Minh B
tên gọi khác: Bằng khùng; giới tính: N, sinh năm 1968 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số F L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Minh S (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; có vợ tên Nguyễn Thị Uyên L1 (đã ly hôn) và 02 con (lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2002); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 14/02/2019 bị Công an P1, quận G Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0006455/QĐ XPVPHC về hành vi “Đánh bạc”, qua xác minh tại Công an P1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo chưa đóng tiền phạt theo quy định. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/8/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Võ Phi Thành Đ, sinh năm 2000; địa chỉ: Số F P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lý Hoàng P, sinh năm 1968; địa chỉ: Số A Â, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Phan Thanh T, sinh năm 1980; địa chỉ: Số C Hậu Giang, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 16/8/2023, Nguyễn Minh B điều khiển xe máy biển số: 59M1 – 02523, từ nhà F L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, qua Trung tâm T2 N, phường T, Quận G, để tham quan Hội chợ Triển lãm “Tôn vinh Hàng Việt năm 2023”, khi đến Trung tâm triển lãm Bằng đi lại chỗ bán cafe miễn phí tại quầy phục vụ cà phê trong sảnh A1. Bằng phát hiện 01 điện thoại Iphone 11, màu vàng 64GB, của ông Võ Phi Thành Đ để trên bàn nhân viên phục vụ không có người trông coi. Bằng lén lút lấy trộm điện thoại trên bỏ vào túi xách của mình rồi đi ra lấy xe máy biển số: 59M1-02523, tẩu thoát. Sau đó, B mang điện thoại vừa trộm được đến địa chỉ 017 lô C2 chung cư L, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, bán cho Lý Hoàng P (sinh năm: 1968; Nơi đăng ký thường trú: 1 Â, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) với giá 1.300.000 đồng, số tiền bán điện thoại được Bằng tiêu xài cá nhân hết. Bị hại ông Võ Phi Thành Đ bị mất tài sản đến Công an trình báo. Qua truy xét, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, đưa Nguyễn Minh B về trụ sở Công an làm việc. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q Nguyễn Minh B khai nhận hành vi phạm tội nêu trên. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q chưa thu hồi được chiếc điện thoại bị chiếm đoạt.
Kết luận định giá tài sản số 240/KL – HĐ ĐGTTHS ngày 21/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận G, kết luận: 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 11 màu vàng 64GB, đã qua sử dụng có giá 6.500.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Minh B đã khai nhận hành vi phạm tội; mục đích trộm cắp vì muốn có tiền tiêu xài; thấy tài sản để trên bàn, không có người trông coi, liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.
* Vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) xe máy hiệu SYM màu vàng, biển số: 59M1 – 02523, số khung RLGMD11BD, số máy VMVCAB-0000161 đã qua sử dụng.
- + 01 (một) điện thoại Nokia màu xanh dương, đã qua sử dụng
* Về dân sự:
Bị hại ông Võ Phi Thành Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.500.000 đồng
Tại bản Cáo trạng số 202/CT-VKSQ7 ngày 14/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, lợi dụng tài sản để trên bàn không có người trông coi, liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.
- Bị hại ông Võ Phi Thành Đ xác nhận bị cáo đã bồi thường cho ông số tiền 6.500.000 đồng nên ông không có yêu cầu nào khác.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh B từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại ông Võ Phi Thành Đ xác nhận bị cáo đã bồi thường số tiền 6.500.000 đồng nên ông không có yêu cầu nào khác.
Về vật chứng thu giữ: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, xét có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Minh B thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản là một điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu vàng 64GB của bị hại là ông Võ Phi Thành Đ. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 240/KL – HĐ ĐGTTHS ngày 21/8/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận G kết luận: “01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone 11 màu vàng 64GB, đã qua sử dụng có giá trị là 6.500.000 đồng”. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Minh B đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Mặc dù bị cáo có tiền sự là chưa đóng tiền phạt theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0006455/QĐ – XPVPHC về hành vi “Đánh bạc” ngày 14/02/2019 của Công an P1, quận G Thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, người bị hại ông Võ Phi Thành Đ xác nhận bị cáo đã bồi thường cho ông số tiền 6.500.000 đồng, nên ông không có yêu cầu nào khác.
- Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe máy hiệu SYM màu vàng, biển số: 59M1 – 02523, số khung RLGMD11BD, số máy VMVCAB-0000161. Qua xác minh chiếc xe do ông Phan Thanh T đứng tên chủ sở hữu, năm 2018 ông T bán lại cho một cửa hàng xe gắn máy, do đã lâu nên ông không nhớ tên và địa chỉ cửa hàng và cũng không còn giữ bất kỳ giấy tờ nào liên quan đến chiếc xe trên. Sau đó vào tháng 4 năm 2023 bị cáo có mua lại chiếc xe trên nhưng không có giấy tờ mua bán hay giấy tờ xe. Bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên xét tịch thu sung quỹ.
- 01 (một) điện thoại Nokia màu xanh dương, đã qua sử dụng, đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên xét trả lại cho bị cáo.
- Đối với Lý Hoàng P khi mua điện thoại Iphone 11 màu vàng, 64 GB do bị cáo bán không biết điện thoại do bị cáo trộm cắp mà có vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý P về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có cơ sở.
- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh B 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu sung quỹ: 01 (một) xe máy hiệu SYM màu vàng, biển số: 59M1 – 02523, số khung RLGMD11BD, số máy VWVCAB-0000161.
- Trả lại: 01 (một) điện thoại Nokia màu xanh dương cho bị cáo.
(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 028 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7).
- 4. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
- 5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- 6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lê Phương T1 |
Bản án số 173/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 173/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh B - trộm cắp ts
